Câu hỏi: Mình ở Hà Nôi. Mình có làm việc cho 1 doanh nghiệp từ 2004 và nay đã nộp đơn xin nghỉ việc. Công ty thanh toán cho tôi trợ cấp thôi việc kể từ 2006 tới hết 2008 (sau đó thì tôi đã đóng BH thất nghiệp). Tôi muốn hỏi cách tính lương để tính trợ cấp thôi việc như nào? Cụ thể bảng lương của tôi gồm có các phần: Lương cơ bản, phụ cấp độc hại, phụ cấp trách nhiệm, dịch vụ. Lương đóng BHXH gồm lương cơ bản + phụ cấp độc hại + phụ cấp trách nhiệm. Nhưng khi tính trợ cấp thôi việc, công ty lại chỉ tính trên lương cơ bản. Như vậy là đúng hay sai? Tôi có thể tìm hiểu thông tư, nghị định nào về cách tính lương để chi trả trợ cấp thôi việc?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo quy định tại Điều 48 Bộ Luật lao động 2012 về trợ cấp thôi việc:

“1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc”.

Điều 14 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ Luật Lao động 2012:

“3. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó:

a)Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;

b) Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật;

c) Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.

4. Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trong một số trường hợp đặc biệt được quy định như sau:

a) Trường hợp người lao động có thời gian làm việc thực tế cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên mất việc làm nhưng thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm ít hơn 18 tháng thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động ít nhất bằng 02 tháng tiền lương;

b) Trường hợp sau khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã mà người lao động chấm dứt hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm đối với thời gian người lao động đã làm việc cho mình và thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động trước khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã”.

Theo quy định trên, thời gian để tính trợ cấp thôi việc là thời gian làm việc thực tế của người lao động cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong trường hợp của bạn, khi làm việc bạn chưa tham gia bảo hiểm thất nghiệp và cũng chưa được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc thì thời gian để tính trợ cấp thôi việc của bạn tính từ năm 2004 đến hết 2008 chứ không phải là từ năm 2006 đến 2008.

Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 6 tháng liền kề trước khi bạn thôi việc, như vậy việc công ty tính trợ cấp thôi việc cho bạn theo lương cơ bản là không đúng theo quy định của pháp luật. Ví dụ: tiền lương bình quân 06 tháng trước khi thôi việc của bạn là 8.000.000 đồng thì mỗi năm làm việc bạn được hưởng trợ cấp một nửa tháng tiền lương, tức là tiền trợ cấp mỗi năm làm việc của bạn là 4.000.000 đồng.

Bạn có thể căn cứ vào quy định trên để tính mức tiền trợ cấp thôi việc mà bạn được hưởng, sau đó bạn yêu cầu công ty giải quyết cho bạn. Trường hợp công ty không giải quyết bạn có thể kiện ra tòa án hoặc thông qua hòa giải viên lao động.

Untitled-1

GỬI YÊU CẦU TỚI LUẬT SƯ

Hotline: 0904 340 664 | Email: info@sblaw.vn