Sử dụng kết quả giám định ADN để chứng minh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

Nội dung bài viết

Câu hỏi: Tôi đang định cư tại nước ngoài. Cha đẻ của tôi vừa qua đời tại Việt Nam có để lại một số di sản là nhà đất nhưng trên Giấy khai sinh của tôi, phần thông tin về cha lại để trống. Hiện nay, các đồng thừa kế khác ở trong nước không thừa nhận tư cách con đẻ của tôi vì tôi không có tên trong sổ hộ khẩu và từ chối phân chia di sản. Xin hỏi chuyên gia pháp lý của SB Law, tôi có được sử dụng kết quả xét nghiệm ADN để chứng minh quan hệ cha con nhằm đòi quyền thừa kế không? Quy trình thực hiện như thế nào và tôi cần lưu ý những rủi ro pháp lý gì để bảo vệ quyền lợi của mình?

 

Trả lời:

– Theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, khi di sản được phân chia theo pháp luật, tiêu chí quyết định để một người được xếp vào hàng thừa kế thứ nhất là tư cách con đẻ, bất kể việc người đó được sinh ra trong hay ngoài giá thú, mang quốc tịch nào hay thời gian định cư ở nước ngoài bao lâu. Khoản 1 Điều 90 Luật Hôn nhân và gia đình cũng ghi nhận quyền nhận cha, mẹ của con kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết, áp dụng cho cả người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Riêng đối với di sản là bất động sản tọa lạc trên lãnh thổ Việt Nam, các thủ tục thực hiện quyền thừa kế bắt buộc phải áp dụng và giải quyết theo quy định của pháp luật Việt Nam.

– Có sự khác biệt lớn về bản chất pháp lý giữa xét nghiệm ADN dịch vụ thương mại thông thường và giám định tư pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam. Luật Giám định tư pháp 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/05/2026) quy định rõ giám định tư pháp là hoạt động sử dụng kiến thức, phương pháp khoa học để kết luận về chuyên môn theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc yêu cầu của người yêu cầu giám định. Đương sự chỉ phát sinh quyền tự yêu cầu tổ chức giám định thực hiện sau khi đã đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án) trưng cầu giám định nhưng không được chấp nhận. Kết quả xét nghiệm ADN tự thực hiện ngoài tố tụng (được gọi là dịch vụ giám định ngoài tố tụng tư pháp theo Nghị định 177/2026/NĐ-CP) chỉ ban hành “văn bản kết quả” chứ không phải “kết luận giám định”, có thể dùng cho thủ tục hộ tịch không tranh chấp nhưng dễ bị bên tranh chấp phản bác tại Tòa án.

– Về thẩm quyền giải quyết, Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình phân định rõ trường hợp không có tranh chấp thuộc thẩm quyền của cơ quan đăng ký hộ tịch, còn trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định đã chết thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Từ ngày 01/07/2025, theo Nghị định 120/2025/NĐ-CP, toàn bộ thẩm quyền đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài (bao gồm đăng ký nhận cha, mẹ, con) đã được phân cấp từ Ủy ban nhân dân cấp huyện xuống Ủy ban nhân dân cấp xã. Đặc biệt, theo quy định mới tại Nghị định 120/2025/NĐ-CP, người yêu cầu không phải có mặt tại cơ quan đăng ký hộ tịch để ký vào Sổ hộ tịch, giúp giảm thiểu đáng kể chi phí đi lại cho người đang cư trú ở nước ngoài.

– Đối với con đường giải quyết tại Tòa án (bắt buộc trong trường hợp người cha đã qua đời), thời hạn giám định tư pháp đối với các vụ việc dân sự thông thường tối đa là 02 tháng, trường hợp có tính chất phức tạp hoặc khối lượng công việc lớn tối đa là 03 tháng kể từ ngày nhận quyết định trưng cầu theo quy định của Luật Giám định tư pháp 2025.

– Rủi ro pháp lý lớn nhất là việc người thừa kế thực hiện giám định ADN và nộp yêu cầu sau khi các đồng thừa kế khác đã hoàn tất việc chia di sản. Theo Điều 662 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp di sản đã được phân chia mà xuất hiện người thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật, mà những người đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia. Do đó, việc chậm trễ thu thập chứng cứ có thể khiến bạn mất quyền nhận lại chính di sản thực tế là nhà đất.

– Về mặt kỹ thuật và thủ tục, việc đương sự tự thu mẫu sinh phẩm và gửi qua bưu điện mà không có sự chứng kiến trực tiếp của cơ sở giám định và xác minh nhân thân người cho mẫu sẽ rất dễ bị đối phương phản bác tại Tòa án. Bên cạnh đó, trường hợp người cha đã chôn cất từ lâu và không còn mẫu sinh phẩm lưu, việc giám định phải thực hiện gián tiếp qua thân nhân bên nội sẽ có độ tin cậy thấp hơn, và thủ tục khai quật lấy mẫu vô cùng phức tạp, nhạy cảm. Ngoài ra, tất cả các giấy tờ, chứng cứ do cơ quan nước ngoài cấp liên quan đến nhân thân bắt buộc phải được hợp pháp hóa lãnh sự và dịch công chứng theo quy định của Luật Hộ tịch thì mới có giá trị sử dụng tại Việt Nam.

 

Kết luận:

Quy trình chuẩn để dùng giám định ADN chứng minh quan hệ thừa kế tại Việt Nam gồm 05 bước: (1) Xác định vụ việc có tranh chấp hay không để chọn cơ quan giải quyết; (2) Chọn đúng loại giám định (tư pháp hay thương mại ngoài tố tụng); (3) Hợp pháp hóa lãnh sự và dịch công chứng giấy tờ nước ngoài; (4) Nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết; (5) Dùng quyết định của Tòa án hoặc trích lục hộ tịch để bổ sung tư cách thừa kế vào hồ sơ khai nhận di sản.

Ba sai lầm phổ biến nhất khiến người thừa kế mất quyền lợi cần tránh là: để hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản (30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản kể từ thời điểm mở thừa kế); tự ý dùng kết quả xét nghiệm dịch vụ thương mại mang thẳng đi khai nhận di sản; và bắt đầu thủ tục quá muộn khi di sản đã bị phân chia xong dẫn đến việc chỉ đòi được tiền thay vì hiện vật nhà đất.

Nếu Quý khách hàng cần tư vấn thêm về lĩnh vực thừa kế, vui lòng liên hệ SB Law để được hỗ trợ chuyên sâu.

Bài viết liên quan