Câu hỏi: Vì sao khoản tiền được các bên xác định là “tiền đặt cọc” vẫn có thể bị cơ quan nhà nước xem là khoản thanh toán trước hoặc hoạt động huy động vốn?
Trả lời
Theo Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, đặt cọc là biện pháp bảo đảm nhằm bảo đảm việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng trong tương lai. Về nguyên tắc, khoản tiền đặt cọc không phải là khoản thanh toán theo tiến độ hoặc nguồn vốn để triển khai dự án.
Tuy nhiên, trên thực tế, cơ quan nhà nước sẽ đánh giá giao dịch dựa trên bản chất thực tế thay vì chỉ căn cứ vào tên gọi của khoản tiền. Nếu khoản tiền đặt cọc được thanh toán theo nhiều đợt gắn với tiến độ dự án, được cấn trừ vào nghĩa vụ thanh toán của hợp đồng chính hoặc được sử dụng để triển khai dự án thì có thể bị xem là khoản thanh toán trước hoặc hoạt động huy động vốn.
Quan điểm này cũng được thể hiện tại Công văn số 75543/CT-TTHT ngày 20/11/2017 của Cục Thuế Thành phố Hà Nội. Theo đó, nếu khoản tiền được thu theo tiến độ thực hiện dự án hoặc tiến độ thanh toán theo hợp đồng thì doanh nghiệp phải lập hóa đơn giá trị gia tăng ngay tại thời điểm thu tiền, dù khoản tiền được gọi là “tiền đặt cọc”.
Vì vậy, khi xây dựng Hợp đồng đặt cọc, doanh nghiệp cần xem xét kỹ cơ chế thanh toán, mục đích sử dụng khoản tiền và cách thức triển khai giao dịch nhằm hạn chế rủi ro khoản tiền bị đánh giá là thanh toán trước hoặc huy động vốn không đúng quy định.
Kết luận
Tên gọi “tiền đặt cọc” không quyết định bản chất pháp lý của giao dịch. Cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét toàn bộ nội dung và cách thức thực hiện giao dịch để đánh giá bản chất của khoản tiền. Do đó, doanh nghiệp cần thiết kế Hợp đồng đặt cọc chặt chẽ nhằm giảm thiểu rủi ro pháp lý.


