Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Chủ tịch Công ty Luật SB LAW trả lời trên Truyền hình Quốc hội trong Chương trình HIỂU ĐÚNG – LÀM ĐÚNG về tình huống lừa đảo bằng hợp đồng kinh tế.

TH: (LỪA ĐẢO BẰNG HỢP ĐỒNG KINH TẾ): Anh Tài với anh Trọng sau một thời gian khởi nghiệp đã thành lập được công ty cổ phần cơ khí Trọng Tài chuyên sản xuất, gia công các chi tiết cơ khí. Nhờ người giới thiệu, 2 anh được 1 công ty liên hệ liên hệ đặt một đơn hàng trị giá 500 triệu với yêu cầu trả chậm trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận hàng. Tuy nhiên, sau hạn trả nợ, anh Tài và anh Trọng vẫn không nhận đủ tiền và đi tìm hiểu thì mới biết công ty của chị My đã bị giải thể, và toàn bộ chứng từ mà chị My cung cấp cho 2 anh đều là giả.

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, theo quy định tại Điều 127 BLDS năm 2015 có quy định:

“Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó…”

Trong tình huống này, chị My đã có hành vi lừa dối, đó là công ty lắp ráp máy Thiên Thu của chị My đã bị giải thể nhưng chị My lại nhân danh Công ty này để ký hợp đồng kinh tế với Công ty của bạn và sử dụng chứng từ giả để bạn ký hợp đồng. Do đó, Công ty Trọng Tài có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng kinh tế này vô hiệu.

Thứ hai, theo như bạn trình bày, Công ty lắp ráp máy Thiên Thu đã bị giải thể nhưng chị My đã lấy danh nghĩa Giám đốc công ty này để giao kết hợp đồng kinh tế, sử dụng chứng từ giả trong giao dịch, không thanh toán đúng thời hạn.

Điều 139 BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 có quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  1. a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
  2. b) Đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
  3. c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
  4. d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
  5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
  6. a) Có tổ chức;
  7. b) Có tính chất chuyên nghiệp;
  8. c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
  9. d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

  1. e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
  2. g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
  3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
  4. a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
  5. b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
  6. c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
  7. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
  8. a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
  9. b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
  10. c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
  11. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Thứ ba, hành vi chị My làm chứng từ giả và sử dụng chứng từ này nhằm lừa dối công ty bạn còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 267 BLHS:

“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

  1. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:
  2. a) Có tổ chức;
  3. b) Phạm tội nhiều lần;
  4. c) Gây hậu quả nghiêm trọng;
  5. d) Tái phạm nguy hiểm.
  6. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bốn năm đến bảy năm.
  7. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”.

Do đó bạn hoàn toàn có thể làm đơn tố cáo gửi tới cơ quan công an để thực hiện nhiệm vụ điều tra, xác minh vụ việc. Nếu có đủ cấu thành tội phạm, chị My sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 139 BLHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 267 BLHS.

Untitled-1

GỬI YÊU CẦU TỚI LUẬT SƯ

Hotline: 0904 340 664 | Email: info@sblaw.vn