Câu hỏi: Công ty mình ở Hà Nội. Công ty mình có một trường hợp tai nạn trong lúc vận hành máy mất một tay trái, nguyên nhân làm sai quy định về kỹ thuật. Trường hợp này đang trong thời gian thử việc và chưa ký hợp đồng. Hiện tại công ty đã thanh toán 100% tiền viện phí và hàng tháng trợ cấp cho trường hợp này 5,000,000 triệu tiền lương (được 3 tháng rồi) hiện công ty không đủ khả năng chi trả nên công ty nhờ SB tư vấn hướng giải quyết và công ty phải trợ cấp hàng tháng bao nhiêu % thì đúng luật?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo như bạn trình bày thì công ty bạn có một người lao động đang thử việc và chưa ký hợp đồng nhưng bị tai nạn lao động mất một tay trái. Công ty bạn đã thanh toán 100% tiền viện phí và hàng tháng trợ cấp cho trường hợp này là 5 triệu/tháng (đã thực hiện được 3 tháng). Hiện, công ty không đủ khả năng chi trả. Trong trường hợp này bạn không nói rõ là người lao động có mức thương tật được giám định là bao nhiêu phần trăm cũng như mức lương của người lao động nên chúng tôi không thể tư vấn chính xác mức trợ cấp. Tuy nhiên, công ty bạn có thể tham khảo các quy định dưới đây để có phương hướng giải quyết.

Theo quy định tại Điều 142 Bộ Luật lao động 2012 thì tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. Quy định này được áp dụng đối với cả người học nghề, tập nghề và thử việc. Như vậy, đối với người lao động đang trong thời gian thử việc thì người lao động vẫn được hưởng các chế độ bồi thường, trợ cấp theo luật lao động.

Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động được quy định tại Điều 144 Bộ luật lao động 2012 như sau:

“1. Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế.

2. Trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị.

3. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật này”.

Bên cạnh đó, theo Điều 38 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015 thì người sử dụng lao động có trách nhiệm đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như sau:

– Kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho người lao động bị tai nạn lao động và phải tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị cho người lao động bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp;

– Thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp như sau:

+ Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế;

+ Trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động đối với những trường hợp kết luận suy giảm khả năng lao động dưới 5% do người sử dụng lao động giới thiệu người lao động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa;

+ Thanh toán toàn bộ chi phí y tế đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế;

– Trả đủ tiền lương cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trongthời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động;

– Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động mà không hoàn toàn do lỗi của chính người này gây ra và cho người lao động bị bệnh nghề nghiệp với mức như sau:

+ Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;

+ Ít nhất 30 tháng tiền lương cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

– Trợ cấp cho người lao động bị tai nạn lao động mà do lỗi của chính họ gây ra một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 4 Điều 38 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015 với mức suy giảm khả năng lao động tương ứng;

– Giới thiệu để người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được giám định y khoa xác định mức độ suy giảm khả năng lao động, được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng lao động theo quy định pháp luật;

– Thực hiện bồi thường, trợ cấp đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày có kết luận của Hội đồng giám định y khoa về mức suy giảm khả năng lao động hoặc kể từ ngày Đoàn điều tra tai nạn lao động công bố biên bản điều tra tai nạn lao động đối với các vụ tai nạn lao động chết người;

– Sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe theo kết luận của Hội đồng giám định y khoa đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi điều trị, phục hồi chức năng nếu còn tiếp tục làm việc;

Như vậy, trường hợp của công ty bạn được xác định là tai nạn lao động nhưng vì người lao động đang trong thời gian thử việc nên người đó không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và công ty cũng không đóng bảo hiểm nên người lao động sẽ không được hưởng chế độ trợ cấp tai nạn lao động từ cơ quan bảo hiểm xã hội và công ty bạn cũng không phải trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động theo quy định của Luật An toàn vệ sinh lao động 2015 về trợ cấp do bảo hiểm chi trả với người bị tai nạn lao động.

Trong trường hợp này, bạn có nêu nguyên nhân tai nạn lao động là do người lao động làm sai quy định về kỹ thuật. Điều này có nghĩa là người lao động cũng có lỗi dẫn đến tai nạn. Do đó, đối chiếu với quy định trên công ty bạn phải trợ cấp cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức bồi thường tương ứng với mức suy giảm khả năng lao động trong trường hợp người lao động bị tai nạn lao động mà không hoàn toàn do lỗi của chính người này gây ra.

Và theo khoản 10, Điều 145 Bộ luật lao động 2012 thì tiền lương để làm cơ sở thực hiện các chế độ bồi thường, trợ cấp, tiền lương trả cho người lao động nghỉ việc do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là tiền lương bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác thực hiện theo quy định của pháp luật về lao động.

Như vậy, công ty bạn có thể dựa vào mức suy giảm khả năng lao động của người lao động cũng như xác định tiền lương của người lao động để biết được người lao động hưởng chế độ trợ cấp một lần hay trợ cấp hàng tháng cũng như công ty mình phải bồi thường bao nhiêu cho phù hợp. Trong trường hợp này, khi xảy ra tai nạn lao động, công ty cần tiến hành lập Đoàn điều tra tai nạn lao động cơ sở hoặc báo cho phía bên Sở lao động thương binh xã hội để tiến hành lập đoàn điều tra tai nạn lao động. Đồng thời, có giấy giới thiệu cho người lao động đi giám định mức suy giảm khả năng lao động để làm kết luận bồi thường hoặc trợ cấp đối với người lao động.

Untitled-1

GỬI YÊU CẦU TỚI LUẬT SƯ

Hotline: 0904 340 664 | Email: info@sblaw.vn