Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Chủ tịch Công ty Luật TNHH SB LAW trả lời phỏng vấn trên Truyền hình Quốc hội trong Chương trình Hiểu Đúng – Làm đúng về Tội khủng bố. Dưới đây là nội dung chi tiết:

Tình huống: Chị Hoa thấy chồng mình có nhiều biểu hiện đang ngờ vì suốt ngày bỏ nhà đi đâu không rõ nên đã tìm đến thám tử tư để nhờ theo dõi chồng mình. Kết quả theo dõi của thám tử là chồng chị Hoa đang có liên quan đến âm mưu khủng bố của một tổ chức phản động. Sau khi sự việc bị công an phát hiện ra, chị Hoa đã tìm đên luật sư xin tư vấn.

Luật sư tư vấn:

Xét hành vi của chồng chị Hoa: chồng chị Hoa có liên quan đến âm mưu khủng bố của một tổ chức phản động. Cụ thể: đã mang chiếc túi đen ra công viên và trong đó có chứa bom => Chồng chị có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội khủng bố được quy định tại Điều 299 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cụ thể như sau:

“1. Người nào nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng mà xâm phạm tính mạng của người khác hoặc phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm:

a) Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố;

b) Cưỡng ép, lôi kéo, tuyển mộ, đào tạo, huấn luyện phần tử khủng bố; chế tạo, cung cấp vũ khí cho phần tử khủng bố;

c) Xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe hoặc chiếm giữ, làm hư hại tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

d) Tấn công, xâm hại, cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân

3. Phạm tội trong trường hợp đe dọa thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này hoặc có những hành vi khác uy hiếp tinh thần, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

4. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị tước một số quyền công dân, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Điều 19 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định về hành vi không tố giác tội phạm như sau:

“1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng …”.

Xét thấy, Tội khủng bố là tội đặc biệt nghiêm trọng do đó thiết nghĩ anh (chị) nên tố giác hành vi của anh Trọng lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Untitled-1

GỬI YÊU CẦU TỚI LUẬT SƯ

Hotline: 0904 340 664 | Email: info@sblaw.vn