Tính pháp lý của mô hình P2P (Peer to Peer – P2P Lending) tại Việt Nam

Nội dung bài viết

SBLAW trân trọng giới thiệu bài viết của luật sư Nguyễn Thị Thu từ SBLAW trên báo Diễn đàn doanh nghiệp với tiêu đề: Tính pháp lý của mô hình P2P (Peer to Peer – P2P Lending) tại Việt Nam.

Sau đây là nội dung bài viết:

Mới đây, sự kiện hàng loạt công ty vay ngang hàng ở Trung Quốc sụp đổ, ngành công nghiệp 192 tỉ USD của nước này chao đảo chính là lời cảnh báo rõ rệt nhất đối với Việt Nam.

Tại Việt Nam, mô hình này mới xuất hiện nhưng mô hình P2P (Peer to Peer – P2P Lending) đã nhanh chóng thu hút được rất đông người tham gia. Các khẩu hiệu như “Vay tiền nhanh trong 30 phút mà không cần gặp mặt”, “Đầu tư lãi suất 20%/năm” là những quảng cáo hấp dẫn của Cty cho vay ngang hàng… Thậm chí, một số công ty cho vay trực tuyến với lãi suất 39%/năm .

Chưa có cơ sở pháp lý cho P2P

Tuy nhiên, do chưa có hành lang pháp lý cho mô hình này, nên khi tranh chấp xảy ra, bị xù nợ, công ty phá sản… rủi ro là cả người đi vay và người cho vay đều không nhận được sự bảo vệ của pháp luật. Tuy nhiên, đáng nói, hiện tại ở Việt Nam hiện chưa có hành lang pháp lý cho P2P. Mọi quan hệ cho vay vẫn áp dụng theo Bộ luật Dân sự.

Khi quảng cáo mức lãi suất cho vay 39%/năm, chiếu theo Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì doanh nghiệp cho vay trực tuyến đã vi phạm pháp luật về lãi suất. Cụ thể, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.

Thêm vào đó, Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định lãi suất cho vay gấp 5 lần mức lãi suất mà Luật Dân sự 2015 quy định thì bên cho vay đã cấu thành tội cho vay nặng lãi và sẽ bị các cơ quan chức năng truy cứu trách nhiệm hình sự.

Rủi ro lớn nhất của mô hình P2P là lãi suất cao và nếu không trả nợ đúng hạn sẽ chịu sức ép lớn khi bị đòi nợ. Nếu các công ty P2P chỉ đơn giản là môi giới, kết nối giữa người vay và người cho vay, thì khi rắc rối xảy ra, trách nhiệm hoàn toàn do hai bên tự giải quyết.

Nhưng nếu công ty P2P tổ chức huy động vốn cho vay thì sẽ vi phạm quy định cho vay của các tổ chức tín dụng. Theo quy định hiện hành, các tổ chức tín dụng mới được huy động và cho vay vốn. Vì vậy, khi tranh chấp xảy ra, cả người đi vay và người cho vay đều không nhận được sự bảo vệ của pháp luật.

Có nên nhân rộng P2P?

Theo bà có nên nhân rộng mô hình P2P không, vì sao?

Qua việc nghiên cứu mô hình P2P trên thế giới, tôi thấy rằng mô hình này có nhiều ưu điểm vì nó tận dụng được khả năng công nghệ thông tin như khả năng phân tích, sử dụng dữ liệu lớn để kết nối người cho vay và đối tượng đi vay, nếu triển khai mô hình này tại Việt Nam, có thể giảm được việc cho vay tín dụng đen hiện nay và cũng giảm được việc vỡ hụi, họ trong thời gian qua.

Tuy nhiên, do đây là hình thức mới, một hình thức kinh doanh gần giống với hoạt động của ngân hàng và của các tổ chức tín dụng, trước khi quyết định có nhân rộng ra không? Các cơ quan quản lý cần nghiên cứu mô hình nước ngoài, khẩn trương xây dựng hành lang pháp lý và tổ chức thí điểm trong thời gian đầu, sau đó vừa làm vừa tổng kết kinh nghiệm, nếu hiệu quả thì có thể cho triển khai và coi đây là một ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

Bà có khuyến cáo gì với người tiêu dùng, cũng như các công ty tài chính?

Tôi cho rằng trong giai đoạn này, chưa có hành lang pháp lý, vì vậy, hoạt động này rất dễ biến tướng tại Việt Nam, và có thể có những đối tượng xấu, lợi dụng mô hình mới và chào mới với mức lãi suất cao cho nhà đầu tư, sau đó có thể “biến mất”, vì vậy, nhà đầu tư cần hết sức thận trọng, chỉ nên tìm hiểu mô hình, còn việc xuống tiền thì chưa nên.

Còn đối với người đi vay, cần cảnh giác với mô hình này, vì rất có thể là hình thức cho vay theo kiểu xã hội đen biến tướng với lãi suất cao, và khi người đi vay bị lún sâu vào, sẽ ảnh hưởng nhiều tới khả năng tài chính của cá nhân và gia đình.

Tư vấn pháp lý

Liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ tư vấn 24/7

    Bài viết liên quan