Share on facebook
Share on email
Share on google
Share on linkedin

Tháo gỡ rào cản, xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi, sắc bén để các mô hình kinh doanh mới của kinh tế số phát triển bền vững

Nội dung bài viết

Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Chủ tịch Công ty Luật TNHH SB Law đã có quan điểm về vấn đề pháp lý đối với các mô hình kinh doanh mới của kinh tế số trên Tạp chí Pháp lý. Dưới đây là nội dung chi tiết:

Thương mại điện tử (E-commerce) là gì? Các mô hình E-Commcerce

PV hỏi: Luật sư đánh giá thế nào về tác động của chính sách pháp luật đến môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam hiện nay (trong đó bao gồm chính sách pháp luật và cơ chế thực thi…)?

Luật sư trả lời: Môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam đã sẵn có nhiều lợi thế về vị trí địa lý, nguồn lao động, sự ổn định chính trị nhưng hiện nay chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế liên quan đến cơ chế hành chính, chính sách pháp lý, cơ sở hạ tầng. Chính vì vậy, trong những năm gần đây, Đảng và Chính phủ đang nỗ lực không ngừng để gỡ bỏ những “nút thắt” này, trước hết từ việc sửa đổi hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực đầu tư. Theo đó, Luật Đầu tư năm 2020 có rất nhiều những điểm mới quan trọng, tác động mạnh mẽ đến môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam.

  • Một là, cắt giảm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện:

So sánh Phụ lục IV Luật Đầu tư năm 2020 với Phụ lục 4 của Luật Đầu tư năm 2014 dễ dàng nhận thấy số lượng ngành, nghề kinh doanh có điều kiện đã giảm đáng kể. Nhiều ngành, nghề đã được gỡ bỏ điều kiện kinh doanh như: Dịch vụ Logistic; nhượng quyền thương mại; dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về môi giới bất động sản… Sự thay đổi này, đã giúp tiết kiệm đáng kể thời gian, công sức, vật chất của nhà đầu tư khi lựa chọn kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình gia nhập thị trường của người dân và doanh nghiệp.

Việc cắt giảm bớt các ngành nghề kinh doanh có điều kiện là một động thái quyết liệt của các nhà làm chính sách, việc này sẽ tác động mạnh theo hướng khuyến khích nhà đầu tư tự làm, tự chịu trách nhiệm, góp phần nhanh chóng tạo các động lực mới cho nền kinh tế phát triển bền vững hơn. Trong thời gian tới, nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam sẽ tiếp tục được tăng cường, đặc biệt đầu tư vào các dự án khởi nghiệp sáng tạo.

  • Thứ hai, tăng cường ưu đãi, hỗ trợ đầu tư (Điều 16 Luật Đầu tư năm 2020)

Luật Đầu tư năm 2020 đã bổ sung toàn diện từ đối tượng được hưởng ưu đãi; ngành, nghề được ưu đãi đến hình thức ưu đãi đầu tư. Sự bổ sung các ngành, nghề, đối tượng được hưởng ưu đãi nhằm bảo đảm thu hút đầu tư một cách có chọn lọc, chất lượng và bền vững; đặc biệt phù hợp với bối cảnh dịch bệnh chưa thể ngăn chặn dứt điểm trên toàn thế giới.

Bên cạnh đó, Luật Đầu tư năm 2020 bổ sung hình thức “Khấu hao nhanh, tăng mức chi phí được trừ khi tính thu nhập chịu thuế”. Hình thức ưu đãi này tác động trực tiếp, giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp; giúp cho các nhà đầu tư nhanh chóng thu hồi được vốn đầu tư trong những năm đầu sử dụng tài sản cố định, hạn chế ảnh hưởng của hao mòn vô hình và có thể liên tục đổi mới kỹ thuật, công nghệ.

Tuy nhiên, điều đặc biệt nhất đó chính là lần đầu tiên trong luật quy định về “ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt” (Điều 20) “nhằm khuyến khích phát triển một số dự án đầu tư có tác động lớn đến phát triển kinh tế – xã hội”. Việc cho phép Chính phủ có quyền quyết định việc áp dụng các yếu tố đặc biệt này sẽ tạo ra một cơ chế mở, linh động, kịp thời thu hút dòng vốn FDI đang dịch chuyển nhanh chóng trong bối cảnh hiện nay.

  • Thứ ba, thay đổi tỷ lệ nắm giữ vốn điều lệ đối với nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện hoạt động đầu tư

Theo điều 23 Luật Đầu tư năm 2020 có quy định về thực hiện hoạt động đầu tư của cổ thức kinh tế có vốn nước ngoài:

“1. Tổ chức kinh tế phải đáp ứng điều kiện và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư thành lập tổ chức kinh tế khác; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế khác; đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC nếu tổ chức kinh tế đó thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài đối với tổ chức kinh tế là công ty hợp danh;

b) Có tổ chức kinh tế quy định tại điểm a khoản này nắm giữ trên 50% vốn điều lệ;

c) Có nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế quy định tại điểm a khoản này nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.”

Như vậy, tỷ lệ nắm giữ vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế vốn đầu tư nước ngoài khi thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam đã giảm “từ 51%” xuống “trên 50%”. Đây tưởng chừng là một thay đổi không đáng kể, nhưng thực chất tác động lớn đến các nhà đầu tư nước ngoài trong các tổ chức kinh tế tại Việt Nam. Theo các quy định tại Điều 80, Điều 145, Điều 148 Luật Doanh nghiệp năm 2020, việc nắm giữ trên 50% vốn điều lệ được coi là nắm quyền chi phối doanh nghiệp, bởi vì tỷ lệ 50% vốn điều lệ là đủ điều kiện để cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành và thông qua các Nghị quyết quan trọng của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông.

Bên cạnh 3 thay đổi đáng kể trên, vẫn còn những quy định rất đáng chú ý mà các doanh nghiệp không thể bỏ qua, bao gồm việc đơn giản hoá, tách biệt các thủ tục đầu tư và cũng như đưa ra thêm khá nhiều chính sách thay đổi về bảo đảm thực hiện dự án đầu tư theo hướng có lợi cho nhà đầu tư. Chính nhờ các thay đổi đó đã giúp cho môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam vẫn hấp dẫn dòng vốn ngoại, bằng chứng là mặc dù dịch Covid-19 đã và đang diễn biến phức tạp từ đầu năm đến nay, nhưng dòng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam vẫn đạt 22,15 tỷ USD sau 9 tháng, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2020. Cụ thể, có 1.212 dự án FDI đăng ký mới, với tổng vốn đăng ký đạt 12,5 tỷ USD, tăng 20,6% so với cùng kỳ năm trước và 678 lượt dự án FDI điều chỉnh vốn, với tổng vốn đăng ký tăng thêm đạt 6,4 tỷ USD, tăng 25,6% so với cùng kỳ năm trước.

PV hỏi: Nền kinh tế VN nói riêng, thế giới nói chung vừa trải qua một năm muôn vàn khó khăn do tác động của dịch bệnh COVID-19, tuy nhiên qua đây cũng cho thấy cơ hội tiềm năng cho các mô hình kinh tế mới của kinh tế số phát triển. Luật sư có thể đánh giá về sự phát triển của các mô hình kinh doanh mới của nền kinh tế số ở VN trong thời gian qua?

Luật sư trả lời: Trước khi đại dịch Covid-19 xuất hiện và tàn phá không chỉ sức khoẻ con người, mà còn là nền kinh tế của hàng loạt quốc gia trên thế giới, khái niệm “thương mại điện tử”, “kinh tế số”, “Cách mạng công nghiệp 4.0” đã được Đảng và Nhà nước ta đề cập từ năm 2009 khi mà Quốc hội cho ban hành Luật Công nghệ cao, và năm 2010 với Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020. Đến năm 2014, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về “Đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế” và vào tháng 9/2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về “Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, đặt mục tiêu tới 2030, kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP.

Kết quả là nền kinh tế số Việt Nam, cùng Indonesia, hiện nay đang dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng trong khu vực Đông Nam Á với trung bình 38%/năm so với 33%/năm của cả khu vực tính từ năm 2015 đến nay.

Theo báo cáo “Nền kinh tế số Đông Nam Á năm 2019″ do Google, Temasek và Bain công bố ngày 3/10/2019, nền kinh tế số Việt Nam năm 2019 trị giá 12 tỷ USD (đóng góp 5% GDP quốc gia trong năm 2019), cao gấp 4 lần so với giá trị của năm 2015 và dự đoán chạm mốc 43 tỷ USD vào năm 2025.

Hà Nội và TPHCM là 2 trong 7 thành phố lớn phát triển nền kinh tế số của khu vực. Nhờ có nền kinh tế số mà các ngành, nghề kinh doanh sôi động, từ thương mại điện tử, quảng cáo trực tuyến trên các trang mạng xã hội (Facebook, Instagram, …), giải trí (Netflix, Pinterest,…), giao thông vận tải (Uber, Grab, Gojek,…) đến phân phối, bán buôn và bán lẻ (Lazada, Shopee,…)… Quy mô thị trường thương mại điện tử đạt khoảng 5 tỷ USD, trong khi du lịch trực tuyến khoảng 4 tỷ USD, truyền thông trực tuyến đạt 3 tỷ USD, gọi xe công nghệ khoảng 1 tỷ USD.

Có thể nhận ra rất rõ tầm quan trọng của thương mại điện tử ở nước ta hiện nay, tiêu biểu là 3 tháng căng mình chống dịch tại Thành phố Hồ Chí Minh vừa qua. Chính những nền tảng giao thông vận tải số như Grab, Now, Shopee, Gojek,… đã góp công cực kì lớn vào công cuộc đẩy lùi dịch bệnh ở TP Hồ Chí Minh, thông qua việc thực hiện mua bán nhu yếu phẩm, đặc biệt là đồ ăn cho người dân, thông qua nền tảng online, giúp người dân có thể yên tâm thực hiện các biện pháp cách ly, phòng và chữa bệnh mà không phải quá lo lắng về vấn đề thiếu thốn lương thực, thực phẩm.

Hơn nữa, hiện nay Việt Nam cũng trở thành nơi đón nhận nguồn vốn đầu tư đứng thứ 3 trong khu vực vào các công ty hoạt động trên nền tảng công nghệ thông tin, Internet với 0,35 tỷ USD cho 137 thương vụ trong năm 2018 và 0,26 tỷ USD cho 54 thương vụ trong năm 2019. Một số thương vụ đầu tư vào MoMo, Sendo từ các nhà đầu tư quốc tế, góp phần đưa Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước.

Tuy nhiên, kinh tế số phát triển tại Việt Nam chủ yếu vẫn là nền tảng giao dịch và được phát triển dựa trên các nền tảng sáng tạo đã có sẵn của thế giới, những nền tảng phát triển bởi Việt Nam còn hạn chế, tập trung chủ yếu ở các nền tảng thương mại điện tử, khả năng cạnh tranh so với các nền tảng thương mại lớn của các tập đoàn/công ty đa quốc gia chưa thực sự cao.

PV hỏi: Thực trạng khung khổ pháp lý đối với nền kinh tế số ở nước ta hiện nay thế nào?

Luật sư trả lời: Những văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh các giao dịch liên quan đến kinh tế số, tiêu biểu là Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật Tần số vô tuyến điện năm 2009; Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định về Thương mại điện tử và Luật An ninh mạng mới được thông qua vào năm 2018.

Cho đến thời điểm hiện tại, đã xuất hiện rất nhiều các hình thức giao dịch, thương mại mới được thực hiện trên không gian mạng, và hầu như rất ít quy phạm pháp luật nào quy định hay điều chỉnh chúng. Bên cạnh đó, xu hướng mua hàng qua mạng đang phát triển mạnh nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro vì không kiểm tra được chất lượng, nguồn gốc sản phẩm, người tiêu dùng khó xác định đầu mối để khiếu nại, đòi bồi thường. Bởi tại thời điểm đó, hay ngay tại thời điểm hiện tại vẫn không hề có một quy định nào mang đủ tính “thời đại” để giải quyết vấn đề này.

Trong khi đó, vấn đề quản lý thông tin người dùng hay định danh điện tử đối với các cá nhân khi tham gia vào các giao dịch điện tử hiện nay cũng chưa được thể chế hoá đồng bộ. Chưa có quy định chi tiết về bảo vệ dữ liệu cá nhân, nên thực tế chưa hướng tới thực hiện triệt để quy định “thông tin người dùng Việt Nam chỉ được tồn tại trong lãnh thổ Việt Nam” để bảo vệ thông tin người tiêu dùng có hiệu quả, đồng thời cần quan tâm đến luật hoá các vấn đề về bảo vệ thông tin cá nhân trong môi trường số, đặc biệt là đối với các sàn giao dịch điện tử. Nghị định số 52/2013/NĐ-CP và Nghị định 85/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 52/2013/NĐ-CP (sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2022) có quy định về cách thức, điều kiện để thành lập, vận hành, tổ chức của một sàn giao dịch điện tử, nhìn chung là khá đầy đủ, tuy nhiên vẫn thiếu một vài chế tài cụ thể để xử lý các trường hợp vi phạm nêu trên và quy định cũng chưa thể hiện được tầm nhìn dài hạn của các nhà làm luật về sự phát triển của thương mại điện tử.

Do đó, thiết nghĩ, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần sửa đổi, bổ sung kịp thời các quy định mới về các giao dịch điện tử đã cũ và không còn phù hợp với thời điểm hiện tại để hướng tới một nền kinh tế số hiện đại, bắt kịp với xu hướng của thế giới.

PV hỏi: Ở thời điểm hiện tại, xu hướng của nền kinh tế số Việt Nam đang tập trung vào 5 lĩnh vực hàng đầu gồm: Thương mại điện tử, truyền thông trực tuyến, vận tải & thực phẩm, du lịch trực tuyến và dịch vụ tài chính số. Tuy nhiên, hầu hết tại các lĩnh vực này đều là sự thống trị của những nền tảng đa quốc gia như Facebook, Google, Grab, Shopee… Trong khi đó các nền tảng được phát triển bởi Việt Nam còn rất hạn chế, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước trước doanh nghiệp nước ngoài cũng chưa thực sự cao. Nhiều quan điểm cho rằng, nguyên nhân xuất phát từ chính những rào cản về mặt pháp lý. Luật sư đánh giá thế nào về nhận định này?

Luật sư trả lời: Văn bản hướng dẫn và quản lý hoạt động thương mại điện tử ở nước ta đang có hiệu lực thời điểm này là Nghị định 52/2013/NĐ-CP. Mặc dù đã có sự thay đổi và điểu chỉnh để bám sát với thực tiễn hơn so với Nghị định 57/2006/NĐ-CP nhưng Nghị định này vẫn còn mang nhiều hạn chế như mang tính siết chặt quản lý, chưa thể hiện mặt thúc đẩy phát triển, chưa bao quát được tất cả các loại hình hoạt động đang diễn ra trong lĩnh vực này. Chính những điều này đã tạo ra kẽ hở cho một vài doanh nghiệp hoạt động như một nền tảng thương mại điện tử nhưng không thuộc chủ thể của hoạt động được Nghị định quy định, do đó không phải chịu sự điều chỉnh, quản lý từ Nghị định 52/2013/NĐ-CP.

Hệ luỵ của vấn đề này đã kéo theo sự cạnh tranh thiếu công bằng giữa các doanh nghiệp, nhất là giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Trong khi các doanh nghiệp trong nước bị siết chặt quản lý theo Nghị định dẫn tới việc hợp tác để kinh doanh, mở gian hàng trên sàn thương mại điện tử gặp nhiều khó khăn thì một số doanh nghiệp nước ngoài lợi dụng lỗ hổng trong quy định pháp luật kể trên, đã thành công trong việc thúc đẩy đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ trên nền tảng của mình để thu hút khách hàng.

Bên cạnh rào cản về mặt pháp lý, một lý do khiến các doanh nghiệp trong nước khó cạnh tranh với nước ngoài chính là vốn đầu tư và công nghệ. Các sàn thương mại điện tử đa quốc gia đã có ưu thế là người đi tiên phong trong việc triển khai công nghệ mới cùng với đội ngũ kỹ thuật hội tụ những người xuất sắc nhất trong lĩnh vực. Do đã có kinh nghiệm hoạt động lâu năm cùng số vốn lớn nên họ chú trọng đầu tư vào việc xây dựng hệ thống, cải thiện các tính năng và nhất là các chương trình khuyến mại để thu hút khách hàng. Điều này chính là điểm yếu đối với các doanh nghiệp trong nước kinh doanh cùng lĩnh vực khi chỉ mới đang đặt những viên gạch nền móng đầu tiên.

PV hỏi: Theo tìm hiểu của PV, thời gian vừa quan cơ quan chức năng tỏ ra khá lúng túng đối với sự xuất hiện của một số mô hình kinh doanh mới như: mô hình kinh tế chia sẻ, các mô hình tài chính kỹ thuật số… Đặc biệt, vấn đề về quản lý thuế đối với mô hình thương mại điện tử; thương mại điện tử xuyên biên giới, hay vấn đề sở hữu trí tuệ trên môi trường internet dẫn đến nhiều hệ luỵ xã hội kiện tụng tranh chấp, lừa đảo, buôn lậu, trốn thuế… Luật sư có thể phân tích bình luận sâu về nội dung này? Nguyên nhân của các vấn đề là từ đâu?

Luật sư trả lời: Nguyên nhân lớn nhất khiến cơ quan chức năng tỏ ra khá lúng túng đối với sự xuất hiện của một số mô hình kinh doanh mới như: mô hình kinh tế chia sẻ, các mô hình tài chính kỹ thuật số,… là do chưa có các quy định pháp luật phù hợp để áp dụng. Chúng ta đã mất quá nhiều thời gian để nghiên cứu, phân tích cơ chế hoạt động của các mô hình này một cách đúng đắn, rõ ràng và đồng bộ. Điều này đã dẫn tới sự chậm trễ trong việc sửa đổi, bổ sung các quy định sao cho phù hợp với thực tiễn, gây ra sự bối rối cho các cơ quan ban ngành trong việc quản lý.

Lấy ví dụ vấn đề quản lý thuế đối với mô hình thương mại điện tử, các cơ quan thuế trước đó đã phải cố gắng phân loại các hình thức giao dịch khác nhau từ việc bán hàng trên mạng xã hội đến cung cấp dịch vụ trên nền tảng Youtube, Google,…nhưng số tiền thu được chưa nhiều, vẫn còn bỏ sót nhiều trường hợp. Nguyên nhân là do các cơ quan thuế chưa thể quản lý được luồng tiền cũng như không nắm rõ được các giao dịch ngân hàng vì vấp phải rào cản từ chính sách hoạt động của các Ngân hàng này, mà trong đó yếu tố bảo mật thông tin khách hàng được đặt lên hàng đầu.

Như vậy, trong nhiều năm liền, các cơ quan thuế gần như “thất thu” đối với các tổ chức/cá nhân kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử. Mãi tới khi Nghị định 126/2020/NĐ-CP được ban hành có quy định về nhiệm vụ, trách nhiệm của Ngân hàng thương mại, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán trong việc phối hợp với cơ quan thuế, lúc này việc truy thu thuế đối với mô hình này mới được thực hiện sâu sát.

Hay như vấn đề sở hữu trí tuệ trên môi trường internet, thực trạng gây nhức nhối hiện nay là các sản phẩm vi phạm SHTT vẫn được bày bán tràn lan trên các sàn thương mại điện tử, mạng xã hội, …trong khi các quy định pháp luật để điều chỉnh chưa có. Kể từ Luật SHTT đầu tiên được Quốc hội thông qua năm 2005 và tiếp đó được sửa đổi, bổ sung năm 2009, đã có không ít vấn đề về SHTT đã được đề cập nhưng phải cho đến gần đây khi Luật SHTT sửa đổi năm 2019 đã có hiệu lực, vấn đề bảo hộ SHTT trong môi trường thương mại điện tử mới được chú trọng nhưng vẫn cho thấy sự thiếu hụt trong các quy định về trình tự thủ tục thực hiện hay việc các chế tài được áp dụng như thế nào,…

Như vậy, việc chậm trễ trong nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật đối với các mô hình kinh doanh mới không chỉ gây khó khăn trong việc quản lý của các cơ quan có thẩm quyền mà còn làm thiệt hại đến ngân sách nhà nước cũng như những tổ chức/cá nhân đang bị xâm phạm đến quyền và lợi ích của mình.

PV hỏi: Để thúc đẩy phát triển các mô hình kinh doanh mới của kinh tế số, đòi hỏi Chính phủ và các Bộ ngành cần giải quyết nhiều vấn đề nhằm tháo gỡ khó khăn cho các DN và thu hút đầu tư. Đặc biệt cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung thể chế, chính sách pháp luật kinh tế và hoàn thiện khung pháp lý cho những mô hình đầu tư kinh doanh mới, từng bước giúp DN Việt hội nhập kinh tế thế giới…, Vậy theo Luật sư hướng giải quyết và các giải pháp cụ thể của các vấn đề này ra sao?

Luật sư trả lời: Theo đánh giá hiện nay, Chính phủ và các Bộ ngành đang tích cực xem xét, nghiên cứu nhằm điều chỉnh các quy định pháp luật sao cho bắt kịp với tốc độ phát triển kinh tế, đặc biệt chú trọng đến việc hoàn thiện khung pháp lý cho những mô hình đầu tư kinh doanh mới. Tới đây khi Nghị định 85/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 52/2013/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2022, sẽ có thể mang tới những thay đổi lớn cho hoạt động thương mại điện tử. Một số điểm đáng chú ý như việc Nghị định mới này đã bổ sung thêm chủ thể của hoạt động thương mại so với Nghị định trước đây tại khoản 6 Điều 1, theo đó các thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ logistics và các dịch vụ hỗ trợ khác cho hoạt động thương mại điện tử sẽ được coi là chủ thể của hoạt động thương mại điện tử.

Bên cạnh đó, bằng việc sửa đổi điểm d khoản 2 Điều 35 Nghị định cũ, Nghị định 85/2021/NĐ-CP quy định mạng xã hội có một trong các hình thức hoạt động như: cho phép người tham gia được mở các gian hàng để trưng bày, giới thiệu hàng hóa hoặc dịch vụ; cho phép người tham gia được mở tài khoản để thực hiện quá trình giao kết hợp đồng với khách hàng; có chuyên mục mua bán, trên đó cho phép người tham gia đăng tin mua bán hàng hóa và dịch vụ thì được coi là hình thức hoạt động của sàn giao dịch thương mại điện tử. Như vậy, từ ngày 1/1/2022, thương nhân, tổ chức thực hiện hoạt động thương mại điện tử thông qua các mạng xã hội như Facbook, Instagram,…đều sẽ phải thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm được quy định trong Nghị định này giống như các thương nhân, tổ chức kinh doanh trên các website thương mại điện tử. Những điều chỉnh này sẽ góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng, mở ra những cơ hội tốt đẹp hơn cho các doanh nghiệp trong nước.

Bên cạnh đó, Chính phủ và các Bộ ngành cũng cần xem xét để hoàn thiện hơn pháp luật về Sở hữu trí tuệ, nhất là cần phải quy định chi tiết, cụ thể hơn về cách thức, trình tự, thủ tục thực hiện bảo hộ SHTT trong TMĐT. Bổ sung quy định nhằm minh bạch hóa thông tin trên các website TMĐT, tăng cường trách nhiệm đối tượng tham gia giao dịch TMĐT cũng như cần làm rõ cách bảo hộ, cách tìm kiếm thông tin về SHTT đã được đăng ký, cách quản lý và giám sát TMĐT, các chế tài sẽ áp dụng khi xảy ra các vấn đề vi phạm. Ngoài ra, có thể tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm của nước ngoài để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, giúp các cơ quan chứng năng, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong việc thực thi ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền SHTT trên sàn TMĐT.

Ngoài ra, đối với việc quản lý thuế từ hoạt động TMĐT, mặc dù đã có khung pháp lý nhưng còn nhiều quy định chưa rõ ràng, cụ thể, chi tiết, đặc biệt cần bổ sung chế tài xử lý đủ mạnh để buộc các tổ chức, cá nhân tham gia kinh doanh TMĐT phải thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước. Thêm vào đó, quy định về việc ủy quyền cho các nhà cung cấp, thanh toán trung gian, các ngân hàng thực hiện việc khấu trừ thuế, nộp thay nghĩa vụ thuế cho các tổ chức, cá nhân cũng cần phải làm rõ trách nhiệm, hướng dẫn cụ thể cho các tổ chức thanh toán, trung gian thanh toán để làm sao họ nhận biết, tính đúng, đủ số thuế nộp thay cho các tổ chức, cá nhân có kinh doanh TMĐT, nhất là đối với thuế nhà thầu của các tổ chức cá nhân có phát sinh thu nhập tại Việt Nam nhưng không đăng ký thuế.

Tư vấn pháp lý

Liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ tư vấn 24/7

    Bài viết liên quan