Trong bài “Quy định mới về điều kiện buôn bán phân bón?” đăng trên báo Dân Việt, có trích dẫn ý kiến của Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Chủ tịch Công ty Luật TNHH SB LAW. Dưới đây là nội dung chi tiết:

Đọc báo Dân Việt tôi được biết mới đây Nhà nước có quy định mới về việc buôn bán phân bón. Nay tôi muốn mở cửa hàng buôn bán phân bón thì phải có điều kiện gì? Trường hợp nào bị thu hồi chứng nhận buôn bán phân bón?

Phạm Văn Sinh (Nam Định)

Vấn đề bạn hỏi, luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch Công ty Luật SBLAW giải đáp như sau:

Đúng như thông tin bạn biết, ngày 20 tháng 9 năm 2017, Chính phủ ban hành Nghị định số108/2017/NĐ-CP  “ Về quản lý phân bón”. Nghị định này có hiệu lực thi hành ngay sau khi ký ban hành . Theo đó, tổ chức, cá nhân buôn bán phân bón phải bảo đảm các điều kiện quy định tại Khoản 1, Điều 19 Nghị định này. Cụ thể là:

– Tổ chức, cá nhân được đăng ký hoặc thành lập theo quy định của pháp luật;

– Có cửa hàng buôn bán phân bón. Cửa hàng buôn bán phân bón phải có: Biển hiệu; sổ ghi chép việc mua, bán phân bón; bảng giá bán công khai từng loại phân bón niêm yết tại nơi dễ thấy, dễ đọc;

– Có khu vực chứa phân bón; có kệ hoặc bao lót để xếp đặt hàng;

– Người trực tiếp bán phân bón phải có Giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn về phân bón, trừ trường hợp đã có trình độ trung cấp trở lên một trong các chuyên ngành về lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, nông hóa thổ nhưỡng, nông học, hóa học, sinh học.

* Trường hợp cơ sở buôn bán phân bón không có cửa hàng phải có đăng ký doanh nghiệp; có địa điểm giao dịch cố định, hợp pháp; có sổ ghi chép việc mua, bán phân bón và người trực tiếp bán phân bón phải có Giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn về phân bón, trừ trường hợp đã có trình độ trung cấp trở lên một trong các chuyên ngành về lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, nông hóa thổ nhưỡng, nông học, hóa học, sinh học.

Tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc buôn bán phân bón bị thu hồi Giấy chứng nhận trong 2 trường hợp sau đây (Khoản 1, Điều 25, Nghị định số 108/2017/NĐ-CP) :

– Sử dụng tài liệu giả hoặc cung cấp thông tin trong tài liệu không đúng thực tế làm sai lệch bản chất của hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận;

– Sửa chữa, tẩy xóa làm sai lệch nội dung ghi trong Giấy chứng nhận.

  • Tổ chức, cá nhân bị thu hồi Giấy chứng nhận chỉ được xem xét tiếp nhận hồ sơ cấp Giấy chứng nhận sau 24 tháng kể từ ngày cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi.

Cảm ơn luật sư!

Lê Chiên (ghi)

Untitled-1

GỬI YÊU CẦU TỚI LUẬT SƯ

Hotline: 0904 340 664 | Email: info@sblaw.vn