Người bị tạm giam phải nộp bao nhiêu tiền để xin tại ngoại?

Nội dung bài viết

Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Chủ tịch Công ty Luật TNHH SB Law đã có những giải đáp về pháp lý đối với vấn đề tại ngoại sau khi bị bắt tạm giam trên báo An ninh thủ đô. Dưới đây là nội dung chi tiết:

Tài sản của vợ-chồng trong thời gian ly thân là tài sản riêng?

Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Chủ tịch Công ty Luật TNHH SB Law

Sau khi Chủ tịch FLC Trịnh Văn Quyết bị bắt tạm giam, một trong những nội dung được nhiều người quan tâm là: Các trường hợp được nộp tiền để tại ngoại, mức tiền nộp là bao nhiêu và không được áp dụng biện pháp này khi nào?

Nộp tiền để tại ngoại là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam, được quy định tại Điều 122 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Theo đó, nộp tiền để tại ngoại được áp dụng khi:

Bị can, bị cáo phạm tội lần đầu; có nơi cư trú rõ ràng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị can, bị cáo có khả năng về tài chính để đặt bảo đảm theo quy định;

Với bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần mà không có hoặc không đủ tiền để đặt bảo đảm thì xem xét đến khả năng tài chính của người đại diện hợp pháp của họ;

Có căn cứ xác định, sau khi được tại ngoại, bị can, bị cáo sẽ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng và không tiêu huỷ, che giấu chứng cứ hoặc có hành vi khác cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử; Việc cho bị can, bị cáo tại ngoại không gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự.

Người bị tạm giam phải nộp bao nhiêu tiền để xin tại ngoại? 

Người bị tạm giam phải nộp bao nhiêu tiền để xin tại ngoại? ảnh 1

Ông Trịnh Văn Quyết Chủ tịch FLC vừa bị khởi tố, bắt tạm giam

Theo Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Đoàn Luật sư Hà Nội, pháp luật hiện hành cũng quy định rõ không áp dụng biện pháp nộp tiền để tại ngoại đối với các trường hợp:

Bị can, bị cáo phạm một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng;

Bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người; phạm tội rất nghiêm trọng thuộc loại tội phạm về ma túy, tham nhũng, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; các tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản;

Bị tạm giam trong trường hợp bị bắt theo lệnh, quyết định truy nã; Bị can, bị cáo là người phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; Bị can, bị cáo là người nghiện ma tuý; Là người tổ chức trong trường hợp phạm tội có tổ chức; Hành vi phạm tội gây dư luận xấu trong nhân dân.

Còn theo khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch 06/2018, cơ quan tiến hành tố tụng không áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm trong trường hợp:

Bị can, bị cáo dùng thủ đoạn xảo quyệt, phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng; Bị can, bị cáo là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm, tái phạm nguy hiểm; Phạm nhiều tội; Phạm tội nhiều lần.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tình trạng tài sản, nhân thân của bị can, bị cáo… Cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án có thể quyết định cho họ hoặc người thân thích của họ đặt tiền để bảo đảm.

Mức tiền cụ thể phải đặt để đảm bảo không dưới 30 triệu đồng với tội phạm ít nghiêm trọng; 100 triệu đồng đối với tội nghiêm trọng; 200 triệu đồng đối với tội rất nghiêm trọng; 300 triệu đồng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng.

Tiền được đặt để bảo đảm là tiền mặt Việt Nam đồng, thuộc sở hữu hợp pháp của bị can, bị cáo hoặc của người đại diện hợp pháp của họ. Không được đặt tiền đang có tranh chấp, tiền đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác, tiền có nguồn gốc bất hợp pháp để bảo đảm.

Cũng theo Luật sư Thanh Hà, bị can, bị cáo được đặt tiền phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ: Có mặt theo giấy triệu tập; Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;

Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án…

Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam và số tiền đã đặt bị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Thời hạn đặt tiền không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định. Thời hạn đặt tiền đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù. Bị can, bị cáo chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan thì Viện kiểm sát, Tòa án có trách nhiệm trả lại cho họ số tiền đã đặt.

Nguồn: https://www.anninhthudo.vn/nguoi-bi-tam-giam-phai-nop-bao-nhieu-tien-de-xin-tai-ngoai-post500023.antd

Tư vấn pháp lý

Liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ tư vấn 24/7

    Bài viết liên quan