Một số lưu ý từ luật sư khi người dân giao dịch vàng

Nội dung bài viết

Luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SBLAW đã dành cho VTV24 bài trả lời phỏng vấn về các giao dịch vàng hiện nay.

Thưa luật sư, theo quy định pháp luật hiện hành, cá nhân bán vàng miếng/vàng nhẫn có bắt buộc phải xuất trình hóa đơn mua ban đầu không?

Trả lời:

Khoản 1 Điều 4 Nghị định 123/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi điểm a khoản 3 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP về nguyên tắc lập quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ quy định “Khi bán hàng, cung cấp dịch vụ, người bán phải lập hóa đơn để giao cho người mua,....”, Điều 12 Nghị định 24/2012/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 232/2025NĐ-CP) quy định trách nhiệm của tổ chức được phép sản xuất, kinh doanh, mua bán vàng miếng là chấp hành các quy định của pháp luật về chế độ kiểm toán, lập và sử dụng hóa đơn chứng từ.

Theo đó, có thể hiểu yêu cầu xuất trình hóa đơn, mua vàng sẽ chỉ áp dụng với trường hợp cá nhân đó là chủ thể kinh doanh vàng (cơ sở kinh doanh vàng) cần phải đáp ứng các quy định về lập, quản lý, sử dụng hóa đơn trong hoạt động kinh doanh. Nếu cá nhân bán vàng/nhẫn vàng là người không nhằm mục đích kinh doanh thương mại, mua bán vàng như một giao dịch dân sự thông thường (mua bán nhỏ lẻ, không thường xuyên, phục vụ nhu cầu cá nhân,...) thì yêu cầu trên là không bắt buộc.

Tuy nhiên để có thể dễ dàng chứng minh nguồn gốc, xuất xứ vàng khi cần thiết, cũng như có các chứng cứ hợp pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, tránh các rủi ro pháp lý thì người dân cũng nên lưu giữ các hóa đơn, chứng từ liên quan đến việc mua bán vàng.

Trong trường hợp không có hóa đơn, người dân có nguy cơ bị xử phạt hay tịch thu vàng hay không?

Trả lời:

Nghị định 340/2025/NĐ-CP không nhằm điều chỉnh các giao dịch dân sự thông thường hay việc người dân sở hữu, cất giữ, sử dụng vàng hợp pháp trong đời sống sinh hoạt hằng ngày. Trọng tâm của quy định này là xử lý các tổ chức, cá nhân có hành vi kinh doanh vàng trái phép.

Theo đó, hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu vàng chỉ được áp dụng đối với các hành vi mang tính chất kinh doanh, bao gồm: sản xuất, kinh doanh, mua bán vàng miếng khi không có giấy phép; xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu hoặc vàng miếng không được cơ quan có thẩm quyền cho phép; hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh vàng khác khi chưa đáp ứng điều kiện theo quy định pháp luật.

Đối với các giao dịch mua bán, trao đổi vàng mang tính nhỏ lẻ giữa người dân với nhau, nếu không được thực hiện thường xuyên, không tổ chức dưới hình thức hoạt động thương mại, không nhằm mục đích kinh doanh và không vi phạm các quy định pháp luật liên quan khác, thì về nguyên tắc sẽ không bị coi là hành vi kinh doanh vàng trái phép để áp dụng biện pháp tịch thu, luật sư Nguyễn Thanh Hà nhấn mạnh.

Việc mua bán, trao tay vàng miếng giữa các cá nhân với nhau có vi phạm pháp luật không?

Trả lời:

Về cơ bản việc mua bán trao tay vàng miếng giữa các cá nhân với nhau không đương nhiên vi phạm pháp luật. Theo đó, pháp luật Việt Nam tôn trọng quyền sở hữu, cất giữ và sử dụng vàng hợp pháp của công nhân, người dân có quyền nắm giữ vàng miếng, kể cả các loại vàng miếng cũ không còn giấy tờ từ nhiều năm trước, không lo bị tịch thu nếu chỉ cất trữ trong nhà.

Việc mua bán vàng trao tay của người dân gắn liền với văn hóa tích trữ truyền và và thường xuyên diễn ra như một giao dịch thông thường nhờ tính chất thuận tiện, linh hoạt và nhanh chóng. Pháp luật Việt Nam tôn trọng quyền sở hữu, cất giữ, sử dụng và định đoạt vàng hợp pháp của công dân. Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 24/2012/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 232/2025/NĐ-CP) của Chính phủ đã quy định: "Quyền sở hữu vàng hợp pháp của tổ chức, cá nhân được công nhận và bảo vệ theo quy định của pháp luật". Song, căn cứ Nghị định số 340/2025/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, hành vi mua bán vàng miếng giữa các cá nhân sẽ bị coi vi phạm pháp luật nếu:

Đối với bên bán (kinh doanh trái phép), các cửa hàng, tổ chức thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, mua bán vàng miếng mà không được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép. Nhóm đối tượng này nếu vi phạm có thể chịu chế tài xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật.

Đối với bên mua, Nghị định không quy định tịch thu vàng đối với cá nhân mua vàng tại các cơ sở kinh doanh, cửa hàng không phép (trừ khi liên quan đến các tội danh hình sự hoặc buôn lậu). Người dân chỉ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền nếu tái phạm nhiều lần.

Trường hợp người dân giao dịch vàng với nhau (giao dịch giữa bạn bè người thân hoặc người khác) nhằm mục đích giao dịch thông thường (mua bán nhỏ lẻ, không thường xuyên, phục vụ nhu cầu cá nhân,..) không nhằm mục đích thương mại, không tại các địa điểm kinh doanh trái phép (như là: Bán vàng vì muốn hỗ trợ người thân lúc khó khăn hay cần tiền phải bán,....) thì không bị coi là vi phạm pháp luật và không bị xử phạt. Như vậy, cần căn cứ và xem xét tính chất của giao dịch giữa các cá nhân để đánh giá xem hành vi mua bán vàng, trao tay của các chủ thể có bị coi là vi phạm pháp luật theo quy định hiện hành không.

Khi nào giao dịch vàng giữa cá nhân có thể bị xem là kinh doanh trái phép và bị xử lý?

Trả lời:

Căn cứ Nghị định 340/2025/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng (có hiệu lực từ ngày 09/02/2026, thay thế Nghị định số 88/2019/NĐ-CP của Chính phủ). Việc giao dịch vàng giữa cá nhân có thể bị xem là kinh doanh trái phép và bị áp dụng chế tài xử lý trong các trường hợp như: Sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng nhưng không có giấy phép sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng; Thực hiện xuất khẩu hoặc nhập khẩu vàng nguyên liệu, vàng miếng không có giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật; Hoạt động kinh doanh vàng khác khi chưa được cấp có thẩm quyền cấp giấy phép theo quy định của pháp luật thì sẽ bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng đối với cá nhân vi phạm, còn đối với tổ chức vi phạm thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân, tức là phạt tiền từ 600.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng (điểm a khoản 3 Điều 5 Nghị định số 340/2025/NĐ-CP của Chính phủ), và bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu số vàng đối với các hành vi vi phạm nêu trên.

Luật sư có lời khuyên gì để người dân tích trữ, mua bán vàng miếng đúng luật và tránh rủi ro pháp lý?

Trả lời:

Thứ nhất, người dân cần phân biệt rõ “tích trữ tài sản” và “kinh doanh vàng”. Người dân có quyền mua vàng để cất giữ, phòng ngừa rủi ro hoặc bán lại khi có nhu cầu. Tuy nhiên, cần tránh việc mua đi bán lại nhiều lần, có tính thường xuyên, nhằm hưởng chênh lệch như một hoạt động sinh lợi, bởi khi đó giao dịch có thể bị xem là kinh doanh vàng và phát sinh rủi ro pháp lý.

Thứ hai, người dân không nên tự ý tổ chức hoạt động mua bán vàng miếng như một nghề nghiệp. Người dân không nên đứng ra làm đầu mối mua – bán, gom vàng từ nhiều người rồi bán lại, tìm kiếm khách hàng, thỏa thuận giá như một hoạt động thương mại. Những dấu hiệu “tổ chức, chuyên nghiệp” này rất dễ bị cơ quan chức năng xác định là kinh doanh vàng trái phép.

Thứ ba, nên ưu tiên giao dịch với các tổ chức, doanh nghiệp được cấp phép. Khi mua hoặc bán vàng miếng, nên thực hiện tại các doanh nghiệp, cửa hàng được Ngân hàng Nhà nước cấp phép. Điều này không chỉ giúp giao dịch đúng luật mà còn hạn chế rủi ro về chất lượng vàng, tranh chấp và nguồn gốc tài sản.

Thứ tư, nên lưu giữ chứng từ giao dịch khi có thể. Pháp luật không bắt buộc cá nhân phải xuất trình hóa đơn mua ban đầu khi bán lại vàng, nhưng việc giữ hóa đơn, giấy tờ liên quan sẽ giúp chứng minh nguồn gốc hợp pháp của tài sản và bảo vệ quyền lợi nếu phát sinh tranh chấp hoặc bị kiểm tra.

Thứ năm, tuân thủ quy định về phương thức thanh toán. Đối với các giao dịch có giá trị lớn, người dân cần chú ý quy định về thanh toán không dùng tiền mặt theo pháp luật hiện hành, tránh vi phạm hành chính không đáng có. Nghị định số 232/2025/NĐ-CP bổ sung khoản 10 Điều 4 của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP về thanh toán mua, bán vàng: "Việc thanh toán mua, bán vàng có giá trị từ 20 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải được thực hiện thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng và tài khoản thanh toán của doanh nghiệp kinh doanh vàng mở tại ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Nhờ vậy, sẽ tăng tính công khai, minh bạch trong các giao dịch và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, khách hàng khi mua bán vàng.

Bài viết liên quan

Bcons Asahi