Vừa qua, chủ tịch công ty luật TNHH SB Law – Luật sư Nguyễn Thanh Hà, đã có bài trả lời phỏng vấn trên báo liên quan đến các hiệp đinh FTA thế hệ mới mà Việt Nam liên tục tham gia ký kết thành công trên trường quốc tế. SB Law xin hân hạnh giới thiệu nội dung cụ thể phần trả lời của luật sư Nguyễn Thanh Hà như sau:

1, Xin ông cho biết suy nghĩ và đánh giá của cá nhân ông khi 3 năm trở lại đây Việt Nam liên tục tham gia ký kết thành công các FTA thế hệ mới?

Trả lời:

Các Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement – FTA) ngày càng được nhiều quốc gia lựa chọn khi mà những thỏa thuận đạt được trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) chưa thể đáp ứng các nước về mức độ cam kết. Các FTA thế hệ mới là giải pháp có tính khả thi để thúc đẩy tiến trình tự do hóa thương mại và đầu tư, cạnh tranh, nâng cao tiêu chuẩn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, môi trường và tiêu chuẩn lao động, vốn chưa được quy định trong các hiệp định hiện tại của WTO.

Tại Việt Nam, Việt Nam liên tục tham gia ký kết thành công các FTA thế hệ mới giúp thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng và đa dạng hóa; thị trường dịch vụ tài chính phát triển hơn với sự tham gia của nhiều nhà đầu tư nước ngoài; hệ thống thể chế, chính sách cũng từng bước được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập và thực thi cam kết trong các FTA.

Tuy nhiên, việc tham gia các Hiệp định FTA, đặc biệt là các hiệp định FTA thế hệ mới, tiêu chuẩn cao và toàn diện như CPTPP và EVFTA không chỉ mang lại cơ hội mà kèm theo những rủi ro và thách thức như: thách thức về kinh tế; thách thức về hoàn thiện khung khổ pháp luật, thể chế; thách thức trong việc thực thi các cam kết trong những lĩnh vực mới chưa có trong các FTA trước đây như lao động, công đoàn, môi trường…; thách thức về bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, tạo môi trường ổn định cho phát triển kinh tế.

2, Từ CPTPP, EVFTA đến RCEP có những ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với Việt Nam nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng, thưa ông?

Trả lời:

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Đối với Việt Nam, Hiệp định có hiệu lực từ ngày 14 tháng 01 năm 2019. Việc tham gia CPTPP giúp các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia chuỗi giá trị ở khu vực và trong khối, từ đó hạn chế sự phụ thuộc vào một khu vực hay một thị trường. Đồng thời, CPTPP cũng giúp Việt Nam đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, từ đó thúc đẩy tăng trưởng nhiều ngành sản xuất trong nước và nhiều lợi ích xã hội.

Ngày 30/06/2019, khối thị trường chung Âu Châu (EU) đã ký kết với Việt Nam một hiệp định thương mại ưu đãi (EVFTA). Sau CPTPP, đây là hiệp định có tiềm năng ảnh hưởng sâu rộng đến kinh tế VN nhất từ trước đến nay. Hiệp định EVFTA có tác động rất lớn đến các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt là các mặt hàng nông, thủy sản cũng như những mặt hàng Việt Nam vốn có nhiều lợi thế cạnh tranh. Những cam kết dành đối xử công bằng, bình đẳng, bảo hộ an toàn trong Hiệp định EVFTA cũng góp phần tích cực vào việc xây dựng môi trường pháp lý từ đó Việt Nam sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư hơn đến từ EU và các nước khác. 

Tiếp đó, ngày 15/11/2020, dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và lãnh đạo các nước thành viên, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đã chính thức được ký kết sau 8 năm đàm phán. So với Hiệp định CPTPP, EVFTA thì Hiệp định RCEP ít được các chuyên gia, truyền thông trong nước nhắc đến hơn. Nhưng dù vậy, ý nghĩa của nó không vì thế mà kém to lớn, thậm chí có sự bổ sung rất lớn để Việt Nam tận dụng tốt hơn các thị trường mà các hiệp định trước đã mở ra.

Việt Nam là một trong những quốc gia nhận nhiều lợi ích nhất từ Hiệp định RCEP khi có các mặt hàng thế mạnh như nông, thuỷ sản đáp ứng nhu cầu hầu hết thành viên tham gia. Hiệp định RCEP, với sự tham gia của 15 thành viên các nước thuộc khu vực châu Á, thiết lập nên một chuỗi thị trường xuất khẩu ổn định, lâu dài cho các nước ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng trong bối cảnh các chuỗi cung ứng bất ổn gần đây do dịch Covid-19 gây ra. Việc thực thi Hiệp định RCEP cũng tạo nên khuôn khổ pháp lý ràng buộc trong khu vực về chính sách thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử… và tạo ra sân chơi công bằng trong khu vực.

3, Xin ông cho biết sự giống và khác nhau về yêu cầu và cam kết, về vai trò của cơ quan quản lý, quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp, những cam kết về minh bạch và chính sách pháp luật khi thực thi giữa CPTPP, EVFTA và RCEP?

Trả lời:

Về nội dung cam kết, các cam kết của Việt Nam trong Hiệp định RCEP được xây dựng trên cơ sở các cam kết của Việt Nam trong WTO và các FTA giữa ASEAN với các đối tác ngoại khối mà Việt Nam đã cùng ASEAN tham gia.  Trong khi Hiệp định CPTPP và EVFTA là các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới hướng đến mở cửa thị trường.

Bên cạnh đó, Hiệp định RCEP cũng bao gồm một số lĩnh vực mới chưa được cam kết trong các hiệp định FTA của ASEAN trước kia như: thương mại điện tử, chính sách cạnh tranh, mua sắm của Chính phủ, nhưng nội dung và mức độ cam kết là phù hợp với pháp luật hiện hành của Việt Nam và các nước ASEAN khác.

Về vai trò của cơ quan quản lý, để hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam sớm tiếp cận và khai thác tối ưu những cơ hội, thuận lợi mà Hiệp định RCEP đem lại, Bộ Công thương đã chuẩn bị lộ trình triển khai các kế hoạch nhằm tuyên truyền, phổ biến đến các doanh nghiệp (DN), đặc biệt là DN nhỏ và vừa. Đồng thời, sẽ hỗ trợ DN nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, nhất là các ngành hàng và dịch vụ mà ta có thế mạnh và tiềm năng. Ngoài ra, Bộ Công thương sẽ tiếp tục xây dựng các chương trình phát triển thị trường cho các mặt hàng xuất khẩu có lợi thế vào thị trường các nước RCEP và hoàn thiện các biện pháp kỹ thuật phù hợp với các cam kết quốc tế để hỗ trợ tối đa cho DN.

Về quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp, mục tiêu mà ASEAN hướng đến là hình thành không gian sản xuất chung kết nối với các nền kinh tế lớn trong khu vực. Bởi vậy, Hiệp định RCEP là mắt xích quan trọng để các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Ngoài ra, Hiệp định yêu cầu các nước thành viên có trách nhiệm thúc đẩy việc chia sẻ thông tin yêu cầu các nước thành viên thúc đẩy việc chia sẻ thông tin liên quan đến doanh nghiệp vừa và nhỏ, bao gồm toàn văn của Hiệp định, các luật và quy định liên quan đến thương mại và đầu tư và các thông tin liên quan đến kinh doanh hữu ích khác nhằm tăng khả năng tận dụng và hưởng lợi của các các doanh nghiệp vừa và nhỏ từ các cơ hội do Hiệp định RCEP tạo ra.

Về những cam kết về minh bạch và chính sách pháp luật khi thực thi, một điểm khác biệt nữa đó là trong Chương 4 Hiệp định RCEP tạo ra khuôn khổ để đơn giản hóa thủ tục hải quan và thiết lập quy tắc xuất xứ tạo thuận lợi cho thương mại. Nhờ đó sẽ tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu, tham gia vào các chuỗi giá trị mới trong khu vực và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài.

4, Các FTA thế hệ mới (như CPTPP, EVFTA) đặt ra các yêu cầu cao, buộc chúng ta phải thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đã ký. Theo ông, chúng ta có nên có những sơ kết hoặc rút kinh nghiệm gì về thực thi CPTPP và EVFTA để chuẩn bị hành trang khi tham gia các FTA thế hệ mới khác? Với cá nhân ông, những bài học kinh nghiệm cần rút ra ở đây là gì?

Trả lời:

Hiện nay, vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể và tuyệt đối để phân biệt giữa các FTA thế hệ mới và thế hệ cũ. Song điểm khác biệt đáng chú ý nhất mà chúng ta có thể nhận thấy giữa hai loại FTA này đó là mức độ cam kết giữa các quốc gia. Nếu như các FTA cổ điển chỉ có mục tiêu là cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa trong thương mại hàng hóa, sau đó được mở rộng sang các lĩnh vực thương mại dịch vụ, bảo hộ đầu tư và sở hữu trí tuệ; thì các FTA thế hệ mới có mức độ cam kết về cắt giảm thuế quan và phi thuế quan sâu rộng và toàn diện hơn. Mặc dù đến thời điểm này, Việt Nam đã tham gia vào rất nhiều FTA, song mới chỉ có CTPPP và EVFTA được coi là hai FTA thế hệ mới.

Tất nhiên, việc tham gia các FTA này sẽ đem lại nhiều tác động tích cực đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Chúng ta có thể dễ dàng nhìn nhận được sự thúc đẩy đối với hoạt động xuất khẩu, hoạt động sản xuất trong nước và cả sự cải tiến đối với môi trường kinh doanh và cải cách trong hệ thống pháp luật. Hơn thế nữa, hoạt động đầu tư cũng được dự đoán là sẽ rất sôi động trong thời gian tới đây. Thế nhưng, các FTA như thế này không chỉ mang lại toàn cơ hội mà cũng đồng thời đặt ra nhiều thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam.

Tại thời điểm này, còn quá sớm để có thể đánh giá toàn diện được tác động của EVFTA và CTPPP đến nền kinh tế của Việt Nam. Thế nhưng từ những kinh nghiệm trong quá trình đàm phán và kí kết các hiệp định, ta thấy rằng các lợi ích suy đoán từ một hiệp định sẽ không đương nhiên trở thành hiện thực, cũng như vậy, các quyền và nghĩa vụ theo các cam kết không tự nhiên phát huy tác dụng mà cần rất nhiều nỗ lực.

Đầu tiên, chúng ta cần đảm bảo về mặt pháp luật, cần thiết lập và duy trì được các thiết chế nhằm bảo đảm thực thi đồng bộ và hiệu quả các cam kết. Thực tế thì rất nhiều cam kết của Việt Nam, không chỉ ở các FTA thế hệ mới mà còn cả ở các FTA trước đây, chúng ta mới đáp ứng được về mặt quy định, hình thức mà chưa thể tổ chức thực thi một cách hiệu quả. Hơn nữa, việc tham gia vào quá nhiều hiệp định sẽ khó để có thể nội luật hóa cho phù hợp cũng như có thể gây ra sự chồng chéo trong hệ thống pháp luật quốc gia. 

Thứ hai là cần đảm bảo khả năng tiếp nhận thông tin của các doanh nghiệp. Mặc dù trong giai đoạn vừa qua Chính phủ tích cực truyền thông để nâng cao nhận thức và sự chuẩn bị của doanh nghiệp với việc thực thi các FTA, song thực tế, nhận thức của doanh nghiệp vấn đề này vẫn chưa đầy đủ, như vậy thì không thể khai thác được triệt để lợi ích mà các hiệp định mang lại. Chưa hết, chúng ta sẽ còn phải đối mặt với nguy cơ về các biện pháp phòng vệ thương mại.

Thứ ba, tiến trình mở cửa, tự do hóa thương mại cần phù hợp với năng lực của doanh nghiệp trong nước. Trong trường hợp mà ta tham gia vào quá nhiều hiệp định nhưng các doanh nghiệp quốc nội còn nhỏ bé và năng lực chưa cao thì khó có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài cũng như không thể khai thác được những cơ hội mà hiệp định đặt ra. Một ví dụ điển hình chính là việc các doanh nghiệp trong nước của ta rất khó đảm bảo quy tắc xuất xức theo EVFTA, không những là không thể hưởng lợi theo hiệp định mà còn có nguy cơ “thua trên sân nhà” khi hàng hóa từ các doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường Việt Nam.

5, Những vấn đề tồn tại trong nội tại của chúng ta từ chính sách pháp luật đến vai trò các cơ quan quản lý và khả năng, năng lực của doanh nghiệp cần tiếp tục phải giải quyết kể từ khi tham gia các FTA thế mới đến nay là gì, thưa ông?

Trả lời:

Đối mặt với các cam kết sâu, rộng, tiến bộ và hiện đại trong các FTA thế hệ mới, có nhiều quy định trong hệ thống pháp luật của chúng ta còn lạc hậu, chưa phù hợp với tiến trình hội nhập và cần được sửa đổi. Có thể lấy ví dự như việc sau rà soát, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi năm 2010) và Luật Công đoàn năm 2012 hiện đang được dự kiến sửa đổi cho phù hợp cam kết tại EVFTA. Khi nhiều tập đoàn kinh tế lớn của EU đầu tư vào Việt Nam cũng sẽ tạo ra áp lực đối với việc thực thi thể chế, luật pháp. Đặc biệt đối với các vấn đề về chống tham nhũng, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo đảm quyền và lợi ích của người lao động như tiền lương, bảo hiểm xã hội, chống cưỡng bức lao động, làm thêm giờ… là những vấn đề Việt Nam đang tiến hành nhưng chưa đáp ứng được đòi hỏi của nhà đầu tư từ EU.

Về các doanh nghiệp, trong bối cảnh Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp, đặc biệt tại khu vực EU và EVFTA vừa chính thức có hiệu lực, nhưng đã có một số DN Việt bắt đầu gặt hái được lợi ích từ hiệp định này, đó là điều rất đáng mừng. Trái ngược với đó, phần lớn DN vẫn chưa nhận diện được các cơ hội cụ thể đến từ các FTA thế hệ mới do nội dung các hiệp định này quá đồ sộ và phức tạp, các doanh nghiệp lại chưa có định hướng và chiến lược phù hợp. Sức ép từ các hiệp định FTA thế hệ mới cũng rất cao, các doanh nghiệp cần thiết phải thay đổi để vừa có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài ngay tại chính thị trường nội địa, vừa đấp ứng được quy định nghiêm ngặt đối với hàng nhập khẩu và vượt qua rào cản kỹ thuật của các thị trường lớn. Đòi hỏi rất nhiều nỗ lực từ phía doanh nghiệp.

6, Khi hội nhập EVFTA nhiều chuyên gia khuyến cáo có một số vấn đề pháp lý lớn doanh nghiệp cần lưu ý để hạn chế thiệt hại khi xảy ra tranh chấp thương mại, trong đó có hai vấn đề lớn rất đang lưu tâm đó là đảm bảo quy tắc xuất xứ của EVFTA và chủ động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Vậy với RCEP, những vấn đề pháp lý nào doanh nghiệp cần hết sức lưu ý, thưa ông?

Trả lời:

Tương tự như các hiệp định thương mại tự do khác, RCEP thúc đẩy Việt Nam cải cách và mở cửa, đi theo hướng tiến bộ và tích cực hơn. Hiệp định này được đánh giá là tạo ra động lực mới để thúc đẩy cho phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là năng lực cạnh tranh và hiệu quả của các DN, nhất là DN vừa và nhỏ sẽ được nâng cao. Bởi vì phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là doanh nghiệp vừa và nhỏ, Hiệp định này có ý nghĩa cực kì lớn.

Cũng giống như đối với các hiệp định thương mại tự do khác, khi đối mặt với RCEP, các doanh nghiệp cần nắm chắc (1) Nội dung hiệp định; (2) Thể chế và quy định pháp luật của các thị trường xuất khẩu tiềm năng. Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực cạnh tranh và đổi mới tư duy trong sản xuất và kinh doanh cũng rất cần thiết. Mặt khác, DN cũng cần chủ động tìm hướng hợp tác với các thị trường đối tác của Hiệp định để thu hút mạnh mẽ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam nhằm tận dụng hiệu quả nguồn vốn và việc chuyển giao công nghệ từ các tập đoàn lớn. Đây cũng chính là cơ hội tốt để các DN của ta tham gia sâu hơn nữa vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.

RCEP mặc dù ra đời sau CTPPP và EVFTA, tuy nhiên đây không được coi là một FTA thế hệ mới. Các tiêu chuẩn nhập khẩu trong hiệp định không quá khắt khe, và thị hiếu tiêu dùng giữa các quốc gia thành viên cũng khá tương đồng. Hơn thế nữa, những nước tham gia vào hiệp định hầu hết đều có nhu cầu nhập khẩu những mặt hàng thuộc thế mạnh của Việt Nam như nông, thuỷ sản… Đặc biệt, nếu như tại EVFTA, không ít sản phẩm xuất khẩu Việt Nam do sử dụng nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ nước nằm ngoài FTA mà không đáp ứng yêu cầu xuất xứ để được hưởng ưu đãi thuế quan thì hiện nay Trung Quốc, Hàn Quốc và những nước vốn là nguồn cung nguyên liệu chủ yếu đều nằm trong RCEP khiến vấn đề về quy tắc xuất xứ để hàng hóa xuất khẩu được hưởng ưu đãi thuế quan RCEP trở nên dễ dàng hơn. Do đó, không có vấn đề pháp lý nào mà doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý tại RCEP như là quy tắc xuất xứ hay bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại EVFTA. Việc quan trọng nhất vẫn là các doanh nghiệp cần tự nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

7, Có một thực tế rất đáng quan ngại là các doanh nghiệp Việt thường bị thua thiệt trong các vụ kiện về phòng vệ thương mại kể từ khi tham gia các FTA thế hệ mới đến nay. Từ thực tế này cần đưa ra những khuyến cáo hoặc giải pháp nào, thưa ông?

Trả lời:

Thứ nhất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tăng cường công tác tuyên truyền, đào tạo, phổ biến kiến thức pháp luật và thực tiễn xử lý phòng vệ thương mại (PVTM) của Việt Nam và thế giới cho cán bộ cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội ngành hàng, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Thứ hai, tăng cường phối hợp của cộng đồng doanh nghiệp: Việc tăng cường phối hợp của doanh nghiệp với nhau cần tập trung vào các nội dung sau: Nâng cao khả năng tập hợp lực lượng của các hiệp hội ngành hàng. Việc tập hợp lực lượng thông qua hiệp hội ngành hàng có lợi thế rất lớn trong việc tận dụng “đầu mối sẵn có” cho tất cả các hoạt động cần thiết của một vụ kiện PVTM.

Thứ ba, cần tăng cường nguồn lực tài chính cho doanh nghiệp: Khởi kiện PVTM luôn đòi hỏi một khoản chi phí lớn. Bản chất của kiện PVTM là vì lợi ích và xuất phát từ chính nhu cầu của doanh nghiệp, nên không thể dựa vào các nguồn lực từ bên ngoài. Do đó, doanh nghiệp cần được tư vấn, tuyên truyền để có kế hoạch tài chính cho các hoạt động pháp lý, để tạo nguồn lực sẵn sàng cho việc đi kiện PVTM khi cần thiết. Các hiệp hội ngành hàng cần có một khoản quỹ dành cho việc này, được tạo thành từ ngồn lực của hiệp hội và từ các hội viên, bởi ngoài các chi phí riêng cho kiện PVTM từ doanh nghiệp, cũng có một số hoạt động cần hành động chung của nhiều doanh nghiệp.

Thứ tư, tăng cường thông tin về PVTM trong các FTA qua kênh hiệp hội ngành hàng. Các hiệp hội có thể lấy thông tin hoặc tư vấn từ các đơn vị chuyên môn như các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan hoặc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).

Bên cạnh đó, điều quan trọng là bản thân các doanh nghiệp cũng cần chủ động có các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng công cụ PVTM để giải quyết các vướng mắc phát sinh.

Câu 8: Để bảo vệ doanh nghiệp trước sân chơi quốc tế và để doanh nghiệp Việt có thể chơi ở sân chơi này, những vấn đề đặt ra với Chính phủ và các bộ, ngành là gì, thưa ông?

Trả lời:

Thứ nhất, đối với Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế và cam kết trong các FTA thế hệ mới. Để thực thi hiệu quả các cam kết trong tương lai, ít nhất là từ góc độ các nghĩa vụ bắt buộc, cần thiết lập một cơ chế chung, thống nhất, ở cấp Chính phủ với các mục tiêu như: Rà soát hệ thống pháp luật, để điều chỉnh đồng bộ pháp luật, kiểm soát tiến độ, hiệu quả điều chỉnh pháp luật theo cam kết… Cách thức vận hành của thiết chế này cũng cần được thiết kế phù hợp để đảm bảo khả năng chỉ đạo thống nhất việc thực thi trên thực tế.

Thứ hai, tăng cường phối hợp giữa doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước có liên quan như: Cơ quan điều tra là Cục PVTM – Bộ Công Thương (phụ trách cả điều tra phá giá/trợ cấp/tự vệ và điều tra thiệt hại đối với ngành hàng sản xuất nội địa); Bộ Công Thương (chủ thể ra quyết định áp dụng các biện pháp PVTM sơ bộ, chính thức); Cơ quan thuế (phụ trách việc thực hiện phân loại và thu thuế PVTM tạm thời, chính thức) thông qua nhiều hoạt động như: cảnh báo sớm nguy cơ bị kiện; cung cấp thông tin cập nhật, kịp thời giúp doanh nghiệp nắm được diễn biến vụ việc; tư vấn một số vấn đề pháp lý, quy trình thủ tục điều tra, quy định/thông lệ điều tra của nước khởi kiện và hướng xử lý cho doanh nghiệp; tham gia hợp tác, trả lời bản câu hỏi điều tra; Nâng cao phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương, hiệp hội ngành hàng, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng doanh nghiệp trong việc cập nhật thông tin; theo dõi, ngăn chặn và xử lý các hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại, gian lận xuất xứ hàng hóa để bảo vệ sản xuất trong nước, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh chân chính;

Thứ ba, tăng cường tuyên truyền, phổ biến về chính sách và quy định về quy tắc xuất xứ, chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại của Việt Nam và các nước nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao nhận thức và khả năng tuân thủ, ứng phó với các vụ kiện do nước ngoài điều tra, cũng như chủ động sử dụng công cụ phòng vệ thương mại để bảo vệ sản xuất trong nước phù hợp với các quy định của pháp luật.

Câu 9: Doanh nghiệp cần chú ý tới những vấn đề lớn nào để chủ động bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của mình trong những cam kết của các FTA thế hệ mới, thưa ông?

Trả lời:

Để tận dụng tốt các cơ hội mà các FTA mang lại, đặc biệt là các FTA thế hệ mới, bên cạnh việc nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, các doanh nghiệp cần chuẩn bị kỹ, tìm hiểu cam kết cụ thể trong các FTA này. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, tăng cường nhận thức để sử dụng có hiệu quả công cụ PVTM trong các FTA mà Việt Nam tham gia. Chủ động tiếp cận thông tin của các kênh thông tin chuyên môn như Cục Phòng vệ thương mại – Bộ Công Thương, VCCI; Chủ động nghiên cứu, đề xuất các cơ quan có thẩm quyền vận dụng các biện pháp PVTM được phép ứng dụng trong WTO và các FTA để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình trước sự cạnh tranh không công bằng của hàng hóa nhập khẩu; Tăng cường đổi mới, đa dạng hóa các hoạt động xúc tiến thương mại; thường xuyên cập nhật thông tin thị trường, sản phẩm; tìm kiếm và mở rộng các kênh bán hàng, phân phối… Trong đó, chú trọng các nước đối tác trong các FTA hiện hành và có tiềm năng đem lại tác động tích cực cho thương mại Việt Nam.

Thứ hai, cập nhật thông tin thường xuyên về diễn biến quá trình thực thi các cam kết trong FTA thế hệ mới mà Việt Nam tham gia, đi đôi với việc tăng cường đầu tư nhập khẩu công nghệ nguồn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm và DN.

Thứ ba, mở rộng mạng lưới và tăng cường kết nối doanh nghiệp trong nước, trong khu vực và trên thế giới thông qua việc hình thành các bộ phận về hội nhập quốc tế trong DN nhằm: Chuẩn bị và nâng cao khả năng xử lý những vấn đề mới; Tăng cường kết nối và hợp tác với các DN nước ngoài để tăng cường khả năng tham gia vào chuỗi giá trị; Sẵn sàng vượt qua các hàng rào kỹ thuật về kiểm dịch, môi trường, an toàn thực phẩm, lao động và công đoàn; DN cần có sự chuẩn bị sẵn sàng cho các vấn đề phát sinh liên quan đến phòng vệ thương mại, sở hữu trí tuệ và các phát sinh khác liên quan đến những cam kết mới, phi truyền thống.

Untitled-1

GỬI YÊU CẦU TỚI LUẬT SƯ

Hotline: 0904 340 664 | Email: info@sblaw.vn