Ngân hàng Nhà nước đang chủ trì xây dựng dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 70/2000/NĐ-CP về việc giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng.

Luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SBLAW đã có bài viết gửi báo Diễn đàn doanh nghiệp, góp ý về dự thảo Nghị định này:

Nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng đã được Chính phủ ban hành bằng Nghị định số 70/2000/NĐ-CP ngày 21/11/2000. Tuy nhiên, sau 16 năm thực hiện, những quy định của Nghị định 70/2000/NĐ-CP đến nay vẫn chưa bao quát hết yêu cầu thực tế hoạt động của các tổ chức tín dụng cũng như cân đối với các quy định khác của pháp luật.

Việc xây dựng và ban hành Nghị định thay thế Nghị định 70 nhằm bảo vệ lợi ích của khách hàng: Tạo cơ sở pháp lý để việc giữ bí mật và việc cung cấp thông tin được thực hiện thống nhất, đồng bộ, rõ ràng, minh bạch, đảm bảo quyền riêng tư cá nhân, thông tin khách hàng được pháp luật bảo vệ, phù hợp với Hiến pháp, Bộ luật Dân sự.

Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 70/2000/NĐ-CP nêu rõ: tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải có quy định nội bộ về giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin khách hàng, đảm bảo các thông tin khách hàng được giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp theo đúng các quy định của pháp luật. tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cung cấp thông tin về mật khẩu truy cập của khách hàng cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào, trừ trường hợp được sự chấp thuận của khách hàng.

Cơ quan nhà nước, tổ chức khác, cá nhân không phải là khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải có trách nhiệm giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được cung cấp, không được để bên thứ ba sử dụng thông tin khách hàng mà mình có được vào bất kỳ mục đích nào mà không có sự chấp thuận bằng văn bản của khách hàng.

Dự thảo đã tương đối hoàn chỉnh, tuy nhiên vẫn còn một số điều khoản quy định chưa rõ ràng, dẫn đến khó hiểu. Cụ thể:

Thứ nhất, Khoản 5 Điều 3 Dự thảo quy định:

“thông tin về tài sản gửi của khách hàng là các thông tin về tài sản của khách hàng …. thông tin định danh khách hàng; tên loại tài sản; giá trị tài sản (nếu có) và các chứng từ hoặc công cụ pháp lý chứng minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản của khách hàng”.

Khái niệm “công cụ pháp lý chứng minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản của khách hàng” là chưa rõ ràng và khá khó hiểu, do đó có thể gây khó khăn trong quá trình áp dụng, đề nghị Ban soạn thảo sửa đổi quy định trên theo hướng rõ ràng, dễ hiểu hơn.

Thứ hai, “Thông tin định danh khách hàng”: điểm b khoản 7 quy định “đối với khách hàng là tổ chức” phải cung cấp thông tin “chủ tài khoản của tổ chức”.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Thông tư 32/2016/TT-NHNN thì “chủ tài khoản của tổ chức là tổ chức mở tài khoản. Người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền (gọi chung là người đại diện hợp pháp) của tổ chức mở tài khoản thanh toán thay mặt tổ chức đó thực hiện các giao dịch liên quan đến tài khoản thanh toán trong phạm vi đại diện”.

Như vậy, quy định vừa yêu cầu cung cấp thông tin định danh của tổ chức (tên giao dịch, địa chỉ đặt trụ sở chính, số điện thoại, …) vừa yêu cầu cung cấp thông tin chủ tài khoản của tổ chức là trùng lặp.

Thứ ba, tại Điều 8 Dự thảo quy định về các trường hợp cung cấp thông tin khách hàng như sau:

“1. Tổ chức khác, cá nhân có quyền yêu cầu tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung cấp thông tin khách hàng được quy định cụ thể tại Bộ luật, Luật”.

Thiết nghĩ, Dự thảo nên liệt kê cụ thể các tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu hay có nhu cầu yêu cầu. Trên thực tế, một số cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác cũng có nhu cầu được cung cấp thông tin như:

– Cơ quan hải quan (Tổng Cục hải quan, Cục hải quan, Chi Cục hải quan);

– Cơ quan quản lý thuế (Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế) để phục vụ công tác cưỡng chế thuế theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 11 Thông tư liên tịch số 102/2010/TTLT-BTC-NHNN;

– Cục thi hành án dân sự (chấp hành viên, Văn phòng Thừa phát lại), người được thi hành án theo quy định tại:

+ Khoản 2 Điều 5 Nghị định 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 và Khoản 4 Điều 20 Luật thi hành án dân sự năm 2008.

+ Điểm đ khoản 1 Điều 7 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
– Cục Quản lý cạnh tranh, Cục chống cạnh tranh thuộc Bộ Công Thương theo quy định tại khoản 10 Điều 2 Quyết định số 848/QĐ-BCT ngày 05/02/2013 của Bộ Công Thương quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh.

– Cơ quan điều tra Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, cơ quan khác của Công an; Viện kiểm sát, Tòa án theo quy định tại:

+ Khoản 2 Điều 5 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015.

+ Khoản 3 Điều 10 và điểm d khoản 1 Điều 14 Nghị định số 25/2014/NĐ-CP ngày 7/4/2014 của Chính phủ quy định về phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác có sử dụng công nghệ cao.

+ Khoản 1 Điều 34, Điều 88, khoản 2 Điều 236, khoản 2 Điều 252 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

– Một số cá nhân, cơ quan khác theo khoản 1 Điều 7 Luật phá sản năm 2014;

– Ngân hàng Nhà nước, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia; Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng, văn phòng luật sư, …

– Việc cung cấp thông tin tài khoản của khách hàng theo quy định của Đạo luật Tuân thủ thuế tài khoản nước ngoài (FATCA).

Ngoài ra, Dự thảo Nghị định cũng chưa quy định điều chỉnh đối với trường hợp khách hàng mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc chết, do vậy, khách hàng không được bảo vệ quyền lợi khi phát sinh các rủi ro nội tại từ phía khách hàng.

Nhằm đảm bảo thống nhất, đồng bộ với các quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, phù hợp với yêu cầu thực tế, tháo gỡ khó khăn cho TCTD, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài và tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc yêu cầu cung cấp và cung cấp thông tin khách hàng, kiến nghị mở rộng đối với tất cả các trường hợp tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu TCTD, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài cung cấp thông tin quy định tại Luật và Pháp lệnh có liên quan. Trong đó, cần liệt kê cụ thể các trường hợp được yêu cầu cung cấp thông tin giúp thuận lợi cho việc tra cứu và áp dụng văn bản. Bao gồm:

– Người đại diện theo pháp luật, người giám hộ hoặc người thừa kế của khách hàng trong trường hợp khách hàng mất năng lực hành vi dân sự, mất tích, chết;

– Người được thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự;

– Cơ quan Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giám sát, cưỡng chế thuế thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật có liên quan;

– Một số đơn vị nghiệp vụ của Bộ Công an trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu thập tài liệu, chứng cứ phục vụ công tác xác minh. Bộ trưởng Bộ Công an quyết định cụ thể đơn vị nghiệp vụ được quyền yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng;

– Các tổ chức quốc tế mà Chính phủ Việt Nam hoặc Ngân hàng Nhà nước có cam kết cung cấp thông tin, Chính phủ các nước theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên trên cơ sở bảo vệ lợi ích quốc gia và không tiết lộ cho bên thứ ba;

– Tổ chức, cá nhân khác có quyền yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng theo quy định tại Luật và Pháp lệnh.

 

 

 

Untitled-1

GỬI YÊU CẦU TỚI LUẬT SƯ

Hotline: 0904 340 664 | Email: info@sblaw.vn