VĂN BẢN PHÁP QUY MỚI BAN HÀNH:

  1. Thông tư số 196/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 26/12/2011 hướng dẫn bán cổ phần lần đầu và quản lý, sử dụng tiền thu từ cổ phần hóa của các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần.
  • Căn cứ phương án cổ phần hóa được cấp có thẩm quyền phê duyệt, ban chỉ đạo cổ phần hóa chỉ đạo doanh nghiệp cổ phần hóa triển khai phương án bán cổ phần lần đầu theo phương thức: (i) bán đấu giá công khai, (ii) thỏa thuận trực tiếp, (iii) bảo lãnh phát hành phù hợp với cơ cấu vốn điều lệ của công ty.
  • Trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày phương án cổ phần hóa được cấp có thẩm quyền phê duyệt, doanh nghiệp cổ phần hóa phải hoàn thành việc bán cố phần lần đầu theo phương thức đã được phê duyệt.
  • Doanh nghiệp cổ phần hóa phải mở một tài khoản riêng tại ngân hàng để phong tỏa số tiền thu từ cổ phần hóa; các ngân hàng thương mại thực hiện cổ phần hóa phải mở tài khoản phong tỏa tại một ngân hàng khác.
  • Căn cứ quy mô vốn điều lệ, tính chất ngành nghề kinh doanh và yêu cầu phát triển, ban chỉ đạo cổ phần hóa xây dựng tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, trình cơ quan quyết định cổ phần hóa phê duyệt. Số lượng nhà đầu tư chiến lược mua cổ phần tại mỗi doanh nghiệp tối đa là 3 nhà đầu tư.
  • Việc mua bán cổ phần được thanh toán bằng đồng Việt Nam. Việc thanh toán thực hiện bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản.
  1. Thông tư 05/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 5/1/2012 hướng dẫn thi hành Nghị định 26/2009/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 16/3/09 và Nghị định 113/2011/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 8/12/2011 về thuế tiêu thụ đặc biệt.
  • Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt của hàng hóa, dịch vụ là giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ của cơ sở sản xuất, kinh doanh chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường (nếu có) và thuế giá trị gia tăng.
  • Đối với dịch vụ:
    • Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá cung ứng dịch vụ của cơ sở kinh doanh chưa có thuế giá trị gia tăng và chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt.
    • Giá dịch vụ chưa có thuế giá trị gia tăng đối với kinh doanh sân gôn (gồm cả kinh doanh sân tập gôn) là doanh thu chưa có thuế giá trị gia tăng về bán thẻ hội viên, bán vé chơi gôn, bao gồm cả tiền bán vé tập gôn, tiền bảo dưỡng sân cỏ, hoạt động cho thuê xe và thuê người giúp việc trong khi chơi gôn, tiền ký quỹ và các khoản thu khác liên quan đến chơi gôn do người chơi gôn, hội viên trả cho cơ sở kinh doanh gôn.
    • Người nộp thuế sản xuất hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt bằng các nguyên liệu chịu thuế tiêu thụ đặc biệt được khấu trừ số thuế tiêu thụ đặc biệt đã nộp đối với nguyên liệu nhập khẩu hoặc đã trả đối với nguyên liệu mua trực tiếp từ cơ sở sản xuất trong nước khi xác định số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp.
  1. Công văn 608/VPCP-KTTH của Văn phòng Chính phủ ngày 4/2/2012 về thuế giá trị gia tăng đối với khoản lãi cho vay của doanh nghiệp không phải là tổ chức tín dụng.
  • Chỉ hoạt động dịch vụ tín dụng theo Luật Các tổ chức tín dụng mới thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng
  • Không khuyến khích các tổ chức kinh tế không có chức năng tín dụng thực hiện hoạt động tín dụng, nếu có phát sinh “dịch vụ tín dụng” thì hoạt động này phải chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật.
  1. Nghị định 05/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 2/2/2012 sửa đổi các Nghị định về đăng ký giao dịch bảo đảm, trợ giúp pháp lý, luật sư, tư vấn pháp luật.
  • Bãi bỏ quy định phải có “Bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý của người yêu cầu đăng ký” trong Hồ sơ đăng ký cầm cố, thế chấp/thay đổi nội dung cầm cố, thế chấp/văn bản thông báo xử lý cầm cố, thế chấp/xóa đăng ký cầm cố, thế chấp tàu bay; Hồ sơ đăng ký thế chấp/thay đổi nội dung thế chấp /văn bản thông báo xử lý tài sản thế chấp/xóa đăng ký thế chấp tàu biển; Hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm/thay đổi nội dung giao dịch bảo đảm/xử lý tài sản bảo đảm/xóa đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.
  1. Công văn 247/LĐTBXH-LĐTL của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ngày 4/2/2012 v/v xây dựng thang lương, bảng lương.
  • Các doanh nghiệp đã xây dựng và đăng ký thang lương, bảng lương với Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, nay doanh nghiệp điều chỉnh lại hệ số lương thấp hơn hệ số lương trong thang lương, bảng lương đã đăng ký hoặc mức lương tối thiểu do doanh nghiệp lựa chọn để tính các mức lương trong thang lương, bảng lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định, nhưng các mức lương trong thang lương, bảng lương mới của doanh nghiệp không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng và bảo đảm các nguyên tắc theo quy định, đồng thời đã có sự thỏa thuận, thống nhất với ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc công đoàn lâm thời và người lao động được coi là bảo đảm theo quy định của Nhà nước.

Untitled-1

GỬI YÊU CẦU TỚI LUẬT SƯ

Hotline: 0904 340 664 | Email: info@sblaw.vn