1. Nghị định 64/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 4/9/2012 về cấp giấy phép xây dựng.

– Trước khi khởi công xây dựng công trình, chủ đầu tư phải có giấy phép xây dựng trừ các trường hợp được miễn giấy phép quy định tại Nghị định này (như công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND các cấp quyết định đầu tư; công trình xây dựng theo tuyến không đi qua đô thị nhưng phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt …)
– Đối với công trình cấp I, cấp đặc biệt, chủ đầu tư có thể đề nghị được xem xét cấp giấy phép xây dựng theo giai đoạn. Đối với dự án gồm nhiều công trình, chủ đầu tư có thể đề nghị để được xem xét cấp giấy phép xây dựng cho một, nhiều hoặc tất cả các công trình thuộc dự án.
– Nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm từ chối thực hiện khi công trình không có giấy phép xây dựng đối với công trình theo quy định phải có giấy phép, hoặc khi chủ đầu tư yêu cầu xây dựng sai với thiết kết và nội dụng giấy phép được cấp.
– Những công trình, theo quy định trước khi Nghị định này có hiệu lực (ngày 20/10/2012) thuộc đối tượng không phải có giấy phép xây dựng, nhưng theo Nghị định này phải có giấy phép, nếu đã khởi công xây dựng thì không phải đề nghị cấp giấy phép; nếu chưa khởi công xây dựng thì phải nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng trước khi khởi công xây dựng.

2. Thông tư 130/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 10/8/2012 hướng dẫn việc mua lại cổ phiếu, bán cổ phiếu quỹ và một số trường hợp phát hành thêm cổ phiếu của công ty đại chúng.
– Công ty đại chúng phải kết thúc việc mua lại cổ phiếu theo thời gian nêu trong bản công bố thông tin nhưng tối đa không quá 30 ngày kể từ ngày bắt đầu thực hiện giao dịch. Công ty đại chúng không được thay đổi ý định hoặc phương án mua lại cổ phiếu như đã báo cáo và công bố thông tin ra công chúng, trường hợp bất khả kháng (thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh và những trường hợp khác được UBCK Nhà nước chấp thuận) thì phải báo cáo UBCKNN. Công ty đại chúng chỉ được thay đổi việc mua lại cổ phiếu sau khi có ý kiến chấp thuận của UBCKNN.
– Cổ phiếu quỹ không được hưởng các quyền phát sinh từ việc phát hành cổ phiếu để trả cổ tức, phát hành tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu. Việc quản lý và hạch toán cổ phiếu quỹ thực hiện theo các nguyên tắc hạch toán kế toán.
– Công ty đại chúng phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu phải đáp ứng các điều kiện sau: Có quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu; Có đủ nguồn thực hiện căn cứ vào báo cáo tài chính kỳ gần nhất được kiểm toán từ các nguồn sau: thặng dư vốn, quỹ đầu tư phát triển, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, quỹ khác (nếu có) được sử dụng để bổ sung vốn điều lệ theo quy định của pháp luật; Tổng giá trị các nguồn vốn nêu trên phải đảm bảo không thấp hơn tổng giá trị vốn cổ phần tăng thêm theo phương án được Đại hội đồng cổ đông thông qua.

3. Công văn 3229/UBCK-QLQ của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ngày 7/9/2012 v/v chấn chỉnh các hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
– Tổ chức kinh doanh chứng khoán (công ty quản lỹ quỹ, công ty chứng khoán) không được thực hiện bán hoặc cho khách hàng bán chứng khoán khi không sở hữu chứng khoán và cho khách hàng vay chứng khoán để bản.
– Công ty quản lý quỹ không được sử dụng tài sản của quỹ, nhà đầu tư ủy thác để cho vay dưới mọi hình thức, bảo lãnh cho các khoản vay dưới mọi hình thức hoặc thanh toán các nghĩa vụ nợ của công ty quản lý quỹ, người có liên quan của công ty quản lỹ quỹ, tổ chức, cá nhân khác.
– UBCKNN đề nghị nhà đầu tư yêu cầu các tổ chức kinh doanh chứng khoán cung cấp sao kê mọi giao dịch phát sinh trên tài khoản của mình, kể cả tài khoản quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý quỹ. Trường hợp phát hiện có các dấu hiệu giao dịch bất thường trên các tài khoản đó, bán chứng khoán không theo lệnh của nhà đầu tư hoặc không phù hợp với hợp đồng quản lý danh mục đầu tư thì đề nghị thông báo ngay cho UBCKNN.

4. Chỉ thị 23/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 7/9/2012 về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu và gửi kho ngoại quan.
– Cấm kinh doanh tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu các loại chất thải nguy hại như ắc quy chì, vi mạch điện tử; nhựa phế liệu, phế thải; thiết bị làm lạnh sử dụng CFC; hóa chất là tiền chất thuộc diện cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu theo các Công ước quốc tế mà VN là thành viên.
– Bộ Công thương quy định các điều kiện kinh doanh đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu hàng hóa có thuế tiêu thụ đặc biệt (rượu, bia, thuốc lá điếu, xì gà) và hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất theo giấy phép của Bộ Công thương. Thời gian hàng hóa được lưu tại VN không quá 45 ngày, chỉ được gia hạn 1 lần không quá 15 ngày; hết thời hạn này buộc phải tái xuất ra khỏi VN trong vòng 15 ngày qua cửa khẩu tạm nhập; trường hợp không tái xuất được thì tịch thu và xử lý theo quy định. Không cho phép chuyển loại hình kinh doanh tạm nhập tái xuất sang nhập khẩu để tiêu thụ nội địa.

5. Công văn 8415/BCT-XNK của Bộ Công thương ngày 7/9/2012 v/v xử lý vướng mắc trong nhập khẩu ô tô.
Các lô xe ô tô chở người loại từ 9 chỗ ngồi trở xuống, chưa qua sử dụng, nhập khẩu theo các hợp đồng đã ký trước ngày ban hành Thông tư 20/2011/TT-BCT (ngày 12/5/2011) và có chứng từ thanh toán trước ngày 12/5/2011 được làm thủ tục nhập khẩu theo quy định, không phải thực hiện theo quy định tại Thông tư 20/2011/TT-BCT ngày 12/5/2011 với nguyên tắc:
– Thương nhân nhập khẩu nộp bổ sung cho hải quan các giấy tờ sau:
+ chứng từ thanh toán lô hàng của ngân hàng thương mại có thời điểm thanh toán trước ngày 12/5/2011.
+ bảng kê số lượng xe ô tô chở người chưa qua sử dụng loại 9 chỗ ngồi trở xuống đã thanh toán trước ngày ban hành Thông tư 20/2011/TT-BCT trong trường hợp chứng từ thanh toán cho nhiều lô hàng, giao nhiều đợt khác nhau, cơ quan Hải quan xác nhận số lượng nhập khẩu của mỗi lô hàng trên bảng kê.
+ văn bản của người bán gửi người mua trong đó thể hiện rõ việc đã nhận tiền của người mua trước ngày 12/5/2011, số lượng xe ô tô chưa giao theo chứng từ thanh toán và hợp đồng đã nêu; xác nhận việc không đồng ý hoàn trả lại tiền do người mua đã chuyển nhưng chưa nhận hàng.
– Hàng về đến cảng VN chậm nhất là ngày 7/12/2012.

Untitled-1

GỬI YÊU CẦU TỚI LUẬT SƯ

Hotline: 0904 340 664 | Email: info@sblaw.vn