Theo thống kê, hiện tổng số người nộp thuế ở trạng thái không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký có nợ thuế khoảng 963.500 trường hợp, gồm 325.500 doanh nghiệp và 638.000 hộ kinh doanh.
Đây là nhóm người nộp thuế đã ngừng hoạt động thực tế nhưng chưa hoàn tất thủ tục giải thể hoặc chấm dứt hiệu lực pháp lý liên quan đến thuế. Đây là nhóm tồn tại phổ biến nhiều năm qua, gây khó khăn cho công tác quản lý người nộp thuế và xử lý nợ đọng ngân sách.
Vì vậy, để giải quyết tình trạng này, dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế 2025 do Bộ Tài chính trình đang được Bộ Tư pháp thẩm định, bổ sung cơ chế xử lý mạnh hơn với doanh nghiệp chây ì nghĩa vụ thuế hoặc ngừng hoạt động nhưng không hoàn tất thủ tục pháp lý.
Dự thảo đề xuất: Từ ngày 1/7, cơ quan thuế có quyền và nghĩa vụ nộp đơn ra tòa để yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã nợ thuế kéo dài, hoặc quá 3 năm kể từ ngày không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Về vấn đề này, Luật sư Nguyễn Thanh Hà (Chủ tịch Công ty Luật SBLAW đã có phần trao đổi cùng VTV về nội dung này:
Câu hỏi: Số lượng các doanh nghiệp ngừng hoạt động nhiều như vậy mà chưa hoàn tất thủ tục giải thể, phải chăng chi phí và thủ tục hiện nay có phức tạp không?
Trả lời: Quy trình giải thể doanh nghiệp hiện nay bị chia cắt và kéo dài. Doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ song song với cơ quan Thuế và cơ quan Đăng ký kinh doanh. Trong đó, khâu “nghẽn” nhất luôn nằm ở quyết toán thuế.
Cơ quan thuế phải kiểm tra, rà soát lại toàn bộ sổ sách, hóa đơn chứng từ của doanh nghiệp (DN) trong suốt quá trình hoạt động. Nhiều DN vừa và nhỏ, hộ kinh doanh không có hệ thống kế toán chuẩn chỉnh, dẫn đến việc giải trình, bổ sung hồ sơ kéo dài hàng tháng, thậm chí hàng năm trời.
Chi phí “chính thức” để nộp hồ sơ giải thể thì không cao. Tuy nhiên, chi phí phát sinh trong quá trình chờ đợi quyết toán thuế, xử lý các khoản phạt chậm nộp, phạt hóa đơn… lại là con số không hề nhỏ.
Khi việc đóng cửa một doanh nghiệp tốn quá nhiều thời gian, công sức và tiền bạc, nhiều chủ doanh nghiệp chọn giải pháp “tiêu cực” là bỏ trốn, đóng cửa văn phòng, ngắt liên lạc (bỏ địa chỉ kinh doanh). Họ chấp nhận để doanh nghiệp rơi vào trạng thái “chết lâm sàng” thay vì đi bơi trong “biển” thủ tục hành chính để giải thể chính thức.

Câu hỏi : Đề xuất cơ quan Thuế yêu cầu mở thủ tục phá sản có phù hợp pháp luật phá sản? Điều kiện 3 năm sau khi doanh nghiệp bỏ địa chỉ kinh doanh mà không thông báo đã phù hợp? Đề xuất này có tạo áp lực gì với doanh nghiệp?
Trả lời: Đề xuất này hoàn toàn phù hợp về mặt nguyên tắc. Theo Luật Phá sản hiện hành, các chủ nợ (bao gồm cả chủ nợ có bảo đảm một phần hoặc không có bảo đảm) đều có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi DN mất khả năng thanh toán.
Cơ quan Thuế ở đây đóng vai trò đại diện cho nhà nước để đòi khoản nợ thuế (một loại nợ không có bảo đảm). Do đó, việc trao quyền và nghĩa vụ cho cơ quan thuế nộp đơn ra tòa là hợp pháp và hợp lý để khơi thông các khoản nợ xấu ngân sách.
Con số 3 năm là khoảng thời gian hợp lý, thậm chí là khá rộng rãi và tạo cơ hội cho DN. Nó đủ dài để cơ quan thuế thực hiện các biện pháp xác minh, cưỡng chế hành chính thông thường.
Nếu sau 3 năm DN vẫn bặt vô âm tín, không phát sinh doanh thu, không liên lạc được thì việc coi họ đã “chết” và cần thanh lý tài sản là cần thiết.
Chủ DN không thể tùy tiện “bỏ trốn” để không nộp thuế hay né tránh nghĩa vụ tài chính nữa. Khi bị tòa án tuyên bố phá sản, thông tin của chủ doanh nghiệp, người đại diện pháp luật sẽ bị lưu vết.
Theo Luật Phá sản, họ có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý tại các doanh nghiệp khác trong một thời hạn nhất định (thường là 3 năm). Điều này buộc họ phải cân nhắc kỹ trước khi quyết định “bỏ địa chỉ kinh doanh”.
Câu hỏi 3: Theo luật sư, cần làm gì để doanh nghiệp có thể rút lui khỏi thị trường thuận lợi và minh bạch hơn?
Trả lời: Để doanh nghiệp có thể rút lui một cách “văn minh”, thuận lợi và minh bạch, chúng ta không thể chỉ dùng biện pháp “bắt phạt” hay áp chế, mà cần cải cách tận gốc quy trình.
Tôi đề xuất 3 giải pháp trọng tâm như sau:
Thứ nhất, Liên thông triệt để và số hóa quy trình “Một cửa”: Cần xây dựng hệ thống liên thông trực tuyến thời gian thực giữa Cơ quan Thuế, Cơ quan Đăng ký kinh doanh và Bảo hiểm xã hội. Khi DN nộp đơn xin giải thể, hệ thống tự động quét dữ liệu. Đối với các DN quy mô siêu nhỏ, không phát sinh nợ thuế hoặc doanh thu dưới một mức nhất định, cần áp dụng cơ chế “Giải thể tự động” hoặc “Giải thể rút gọn” trong vòng 5 – 7 ngày làm việc mà không cần qua bước hậu kiểm phức tạp.
Thứ hai, Áp dụng nguyên tắc “Quản lý rủi ro” trong quyết toán thuế: Cơ quan thuế không nên kiểm tra tất cả các DN giải thể như nhau. Cần phân loại: DN nào có lịch sử tuân thủ thuế tốt, quy mô nhỏ thì cho miễn kiểm tra quyết toán khi giải thể (hoặc hậu kiểm xác suất). Chỉ tập trung nguồn lực thanh tra sâu các DN có dấu hiệu rủi ro cao, doanh thu lớn. Điều này sẽ giải phóng cuộc bế tắc về thời gian chờ quyết toán thuế hiện nay.
Thứ ba, Hoàn thiện và đơn giản hóa thủ tục Phá sản tại Tòa án:Hiện nay, thủ tục phá sản tại Tòa án Việt Nam còn rất phức tạp và kéo dài (thường mất vài năm). Nếu cơ quan Thuế nộp đơn phá sản hàng loạt theo dự thảo mới, Tòa án sẽ rơi vào tình trạng quá tải nghiêm trọng. Do đó, cần có một quy trình phá sản rút gọn dành riêng cho nhóm doanh nghiệp đã “bỏ địa chỉ kinh doanh” (vốn đã không còn tài sản, không còn người đại diện) để Tòa án có thể nhanh chóng ra quyết định tuyên bố phá sản, xóa nợ thuế và đóng mã số doanh nghiệp một cách dứt điểm.
