Mục tiêu đến năm 2020, cả nước đạt 1 triệu doanh nghiệp theo lộ trình Chính phủ đề ra, cùng với đó là hàng loạt cơ chế, chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ kinh doanh cá thể hoạt động, thúc đẩy họ chuyển đổi thành doanh nghiệp.

Điển hình như Nghị định số 39/2018/NĐ-CP đã quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Cụ thể, DNNVV chuyển đổi từ hộ kinh doanh được hưởng một số ưu đãi như miễn lệ phí môn bài trong thời hạn 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu; được tư vấn hướng dẫn miễn phí về thủ tục hành chính thuế và chế độ kế toán trong thời hạn 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu; miễn phí thẩm định, lệ phí cấp phép kinh doanh lần đầu đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện…

Cũng theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP, ngân sách nhà nước sẽ hỗ trợ tối thiểu 50% chi phí của một khóa đào tạo về khởi sự kinh doanh, quản trị DN cho DN nhỏ và vừa. Nhà nước cũng có nhiều chính sách hỗ trợ DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, như hỗ trợ tư vấn về sở hữu trí tuệ; khai thác và phát triển tài sản trí tuệ; hỗ trợ thực hiện các thủ tục về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng; thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm mới, mô hình kinh doanh mới…-

Tại Dự thảo Nghị quyết về một số chính sách thuế thu nhập DN nhằm hỗ trợ, phát triển DN nhỏ và siêu nhỏ của Bộ tài chính, có Nội dung đáng chú ý là miễn thuế thu nhập DN trong 2 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế đối với DN thành lập mới từ hộ, cá nhân kinh doanh. Áp dụng thuế suất 15% đối với DN có tổng doanh thu năm dưới 3 tỷ đồng và có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người. Áp dụng thuế suất 17% đối với DN có tổng doanh thu năm từ 3 tỷ đồng đến dưới 50 tỷ đồng và có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người. Mức thuế thu nhập DN phổ thông đang được áp dụng với các DN là 20%.

Bên cạnh đó, Điều 3 của Dự thảo nêu phương pháp tính thuế đơn giản hơn đối với DN siêu nhỏ. Theo đó, DN siêu nhỏ phải thực hiện hạch toán doanh thu, chi phí và khai, nộp thuế theo phương pháp xác định thu nhập.

Trường hợp DN siêu nhỏ xác định được doanh thu nhưng không xác định được chi phí, thu nhập của hoạt động sản xuất, kinh doanh thì kê khai nộp thuế thu nhập DN theo tỷ lệ 0,4%, 0,8% hoặc 1,2% (tùy theo lĩnh vực hoạt động) trên doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ. Các trường hợp nộp thuế theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu theo quy định này không phải kiểm tra quyết toán thuế khi giải thể, phá sản.

Theo thống kê của Hiệp hội DN nhỏ và vừa Việt Nam, đến năm 2019, cả nước có trên 3,5 triệu hộ được cấp mã số thuế và có hơn 2 triệu hộ sản xuất nhỏ lẻ. Với khoảng trên 5,5 triệu hộ kinh doanh, ước tính tổng tài sản khoảng trên 655 nghìn tỷ đồng, tạo ra khoảng trên 2,2 triệu tỷ đồng doanh thu, nộp 12.362 tỷ đồng tiền thuế, giải quyết 7,945 triệu lao động. Trong số đó, khoảng 80% hộ kinh doanh hoạt động trong ngành công nghiệp – xây dựng; 20% trong ngành Thương mại dịch vụ, trong đó, tập trung vào lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy (45%), lưu trú, ăn uống (16%).

Ngày hôm nay chúng tôi mời đến trường quay Luật sư Nguyễn Thanh Hà đến từ công ty Luật SB Law để lắng nghe những chia sẻ của ông về vấn đề này. Cảm ơn Luật sư đã tham dự chương trình ngày hôm nay!

1. Vì sao việc thúc đẩy hộ kinh doanh cá thể chuyển đổi thành doanh nghiệp lại rất được chú trọng trong thời gian qua thưa ông? Điều này sẽ mang lại lợi ích như thế nào cho doanh nghiệp nói riêng và cho nền KT nói chung?

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, khu vực hộ kinh doanh (HKD) không ngừng phát triển. Mặc dù có đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của kinh tế – xã hội đất nước nhưng số thu từ thuế của hộ kinh doanh lại chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng thu ngân sách nhà nước.

Xác định rõ điều này, Tổng cục Thuế đã không ngừng đề ra các giải pháp để mở rộng cơ sở thuế từ đó tăng thu ngân sách nhà nước nhưng không tăng thuế làm ảnh hưởng đến những HKD đang quản lý. Đó là lý do việc thúc đẩy HKD cá thể chuyển đổi thành doanh nghiệp (DN) lại rất được chú trọng trong thời gian qua.

Xét về lợi ích của việc chuyển đổi mô hình từ HKD sang DN, sau khi chuyển đổi, DNsẽ dễ dàng tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước; có tư cách pháp nhân thì hàng hóa của DN cũng sẽ dễ được đưa vào hệ thống phân phối, chuỗi cung ứng toàn cầu; tạo điều kiện để phát triển và bảo vệ thương hiệu, thuận lợi trong việc huy động vốn. Việc chuyển đổi thành DN giúp quy mô sản xuất kinh doanh lớn hơn, bài bản hơn và là cơ hội tốt trong nền kinh tế thị trường hiện nay.

Tóm lại, việc chuyển đổi từ HKD thành DN sẽ nâng cao vị thế, điều kiện, thu nhập, an toàn, phúc lợi và hướng đến sự phát triển bền vững. Đồng thời, đảm bảo tính chính xác, công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế giữa các loại hình kinh doanh và tận dụng được các ưu đãi, hỗ trợ từ cơ chế, chính sách của Nhà nước. Đồng thời, nhờ đó nhà nước cũng tận thu được nguồn thuế dồi dào hơn từ những DN này. Đối với nền kinh tế chung, chủ trương này góp phần thúc đẩy chính quyền thực hiện các biện pháp cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách hành chính thông thoáng hơn. Qua đó giúp DN dễ dàng nhận diện cơ hội làm ăn lớn hơn; áp lực tuân thủ pháp pháp luật buộc DN phải minh bạch hơn, quản lý bài bản hơn.

2. Theo ông, chúng ta đã đạt được những kết quả như thế nào trong thời gian vừa qua?

Về căn bản, nhờ việc tuyên truyền vận động, số lượng HKD chuyển đổi lên loại hình DN đã bước đầu đạt được những kết quả khả quan. Mặc dù số lượng HKD chuyển sang DN còn thấp hơn so với các DN được thành lập mới nhưng cũng đã đạt được bước tiến đáng kể. Nhiều HKD đã nhận thấy được những thuận lợi khi chuyển đổi sang loại hình DN, đồng thời Nhà nước cũng tạo rất nhiều cơ chế hỗ trợ, ưu đãi cho các DN mới từ HKD chuyển sang. Điều này tạo động thái tích cực cho các HKD chuyển sang loại hình DN khi đáp ứng đủ các tiêu chí theo quy định.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, theo đánh giá của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cho thấy, kết quả vận động HKD chuyển thành DN còn hạn chế; do một số nguyên nhân. Đó là, tâm lý e ngại về thủ tục, sợ gặp phiền hà trong quá trình hoàn thiện hồ sơ; chưa nắm hết thông tin quy định cần thiết; thủ tục thuế phức tạp hơn, đặc biệt là sợ phải chi phí nhiều hơn khi trở thành DN.

3. Theo ông rào cản lớn nhất hiện nay khi chuyển đổi từ HKD lên DN là gì? (liệu có phải nằm ở chính bản thân các hộ kinh doanh cá thể?)

Để khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi lên DN, Quốc hội đã thông qua Luật Hỗ trợ DN nhỏ và vừa (DNNVV) có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2018 nhưng nhiều nội dung quan trọng có tính chất hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi này đến nay vẫn chưa đi vào cuộc sống.

Đồng thời, khả năng tiếp cận các chính sách hỗ trợ quy định theo Luật Hỗ trợ DNNVV của các DNNVV còn rất hạn chế do quy trình, thủ tục xét chọn, tuyển chọn, thẩm định kinh phí, thanh quyết toán kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước còn khá rườm rà, nhiều thủ tục, gây tâm lý e ngại cho các DN khi tham gia các chương trình, đề án hỗ trợ của Nhà nước; …

Bên cạnh đó, họ cũng e ngại khi chuyển đổi lên DN sẽ phải thực hiện nhiều thủ tục phức tạp hơn về sổ sách, kế toán, báo cáo tài chính hay khi mở rộng quy mô cũng phải lo về bảo hiểm hay các chính sách cho người lao động. Việc thiếu kỹ năng quản lý cũng là một thách thức cho sự phát triển của khu vực HKD cá thể này.Với tâm lý đó, so với những ưu đãi của Nhà nước dành cho HKD chuyển đổi lên DN, họ vẫn nghiêng về lựa chọn HKD nhiều hơn

4. Với những rào cản như vậy, thì việc phát triển hộ kinh doanh thành doanh nghiệp nên khuyến khích hay ép buộc?

Không thể ép buộc người dân chuyển đổi HKD thành DN bởi không phải HKD nào cũng có nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất, đặc biệt với các ngành nghề chỉ cần quy mô nhỏ như kinh doanh tạp hóa, hàng ăn, tiêu dùng,…Tuy nhiên, việc chuyển đổi HKD lên DN cũng mang lại ý nghĩa lớn cho nền kinh tế phát triển, vậy nên vẫn cần khuyến khích việc chuyển đổi bằng việc lắng nghe, tiếp thu ý kiến của người dân để đưa ra các quy định mới mang tính hỗ trợ phù hợp hơn.

Hiện việc quản lý tuân thủ pháp luật của HKD còn lỏng lẻo và nhiều kẽ hở hơn rất nhiều so với DN. Chọn hình thức HKD trong một số trường hợp là chọn “không gian làm ăn” để dễ bề thực hiện các hành vi “né” thuế, tránh tuân thủ các quy định của pháp luật về môi trường, lao động, thanh kiểm tra các loại. Do vậy, khi nào chưa thắt chặt việc quản lý tuân thủ pháp luật của HKD thì sẽ khó tạo động lực cho việc chuyển đổi diễn ra theo đúng thực chất và hiệu quả.

5. Chính phủ đã đưa ra rất nhiều những chính sách ưu đãi cho DNNVV, mới đây nhất là đề xuất của Bộ tài chính về Giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (DN) cho các DN nhỏ và siêu nhỏ, đơn giản hóa cách tính thuế nhằm thúc đẩy các hộ kinh doanh chuyển thành DN. Ông đánh giá như thế nào về những đề xuất này?

Những giải pháp về thuế nêu trên có tác động lớn đến việc thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh của DN, tháo gỡ khó khăn cho DN, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, minh bạch và cải cách thủ tục hành chính. Tuy việc giảm nghĩa vụ này trong ngắn hạn có gây áp lực lên cân đối NSNN, nhưng về dài hạn sẽ tạo điều kiện để DN nhỏ và siêu nhỏ tăng tích tụ, tích lũy, tái đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, từ đó góp phần tăng thu từ thuế thu nhập DN vào những năm sau. Nói chung, chính sách này rất tích cực và có khả năng đem lại nguồn thu từ thuế cho nhà nước sau này.

6. Thảo luận về Dự thảo luật doanh nghiệp (sửa đổi) tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV, đề nghị bổ sung hộ kinh doanh vào đối tượng điều chỉnh của Luật doanh nghiệp đã nhận được những ý kiến trái chiều. Xin hỏi ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?

Việc xem xét có nên đưa HKD vào đối tượng điều chỉnh của Luật doanh nghiệp hay khôngcần phải nghiên cứu, cân nhắc kỹ lưỡng.  Theo đó, cần xét trên các yếu tố về quyền mà các HKD sẽ được nhận và những nghĩa vụ phải thực hiện khi thực hiện việc bổ sung này. Ví dụ, khi trở thành đối tượng của Luật doanh nghiệp thì HKD phải thực hiện chế độ kê khai, báo cáo tài chính, …Việc bổ sung này phải mang lại nhiều quyền lợi hơn là nghĩa vụ thì đối với HKD mới là cần thiết.

7. Ông có thể đề xuất những giải pháp khác không?

Hình thức HKD này phải có luật để điều chỉnh. Theo đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nghiên cứu để xây dựng riêng một luật điều chỉnh đối tượng này. Hiện tại, HKD không được vay vốn ngân hàng, mà muốn vay vốn thì cá nhân đứng ra vay và phải thế chấp tài sản cá nhân, còn khi được pháp luật bảo hộ bằng luật, thì chủ HKD hoặc người đại diện theo pháp luật có thể tiếp cận vốn ngân hàng để mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh. Do đó, nếu có pháp luật điều chỉnh HKD thì sẽ mang lại nhiều lợi ích.

Xin được cảm ơn những chia sẻ vừa rồi của Luật sư Nguyễn Thanh Hà!

Untitled-1

GỬI YÊU CẦU TỚI LUẬT SƯ

Hotline: 0904 340 664 | Email: info@sblaw.vn