SBLAW trân trọng giới thiệu bài phỏng vấn của luật sưNguyễn Thanh Hà, chủtịch SBLAW trên tạp chí Trang Trại Việt.

Thời gian qua, không ít chủ trang trại có ý kiến cho rằng việc cấp Giấy chứng nhận kinh tế trang trại chưa thông thoáng; thủ tục đăng ký nhãn hiệu sản phẩm còn rườm rà, khó khăn,… dẫn đến mất cơ hội làm ăn. Dưới góc nhìn pháp lý, chuyên gia đánh giá vấn đề này thế nào? Điểm nào bất cập trong quy trình cấp Giấy chứng nhận kinh tế trang trạivà Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu? Cải tiến thế nào để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các chủ trang trại?…Đó là nội dung cuộc trao đổi của TTV với luật sư Nguyễn Thanh Hà (Chủ tịch Công ty luật SBLaw- Hà Nội).

Theo quy định hiện hành thì quy trình cấp Giấy chứng nhận kinh tế trang trại (GCNKTTT) được thực hiện thế nào, thưa luật sư?

Việccấp GCNKTTTđược quy định tại Thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Theo đó, cá nhân, hộ gia đình có hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chí xác định kinh tế trang trại ( theo quy định tại Điểu 5, Thông tư này)  sẽ được UBND cấp huyện cấp GCNKTTT

Đối với trường hợp đề nghị cấp mới, cá nhân, hộ gia đình hoặc người đại diện theo ủy quyền (gọi tắt là chủ trang trại) nộp một bộ hồ sơ (theo quy định tại Điều 8 27/2011/TT-BNNPTNT); đối với trường hợp cấp đổi thì nộp một bộ hồ sơ theo quy định tại Điều 9, 27/2011/TT-BNNPTNT  tại UBND cấp xã nơi trang trại sản xuất. Nếu cơ sở sản xuất nằm trên địa bàn nhiều xã thì chủ trang trại tự quyết trong việc lựa chọn UBND cấp xã nào nộp hồ sơ cho thuận tiện nhất.

UBNDcấp xã tiếp nhận hồ sơ khi có đủ giấy tờ theo quy định và phải trao Giấy biên nhận cho người nộp hồ sơ trong đó ghi rõ ngày hẹn trả kết quả. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, UBNDcấp xã kiểm tra, xác nhận Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận kinh tế trang trạivà chuyển hồ sơ đề nghị cấp GCNKTTTđến UBNDcấp huyện. Trường hợp không xác nhận Đơn đề nghị cấp GCNKTTT, UBNDcấp xã phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do cho người nộp hồ sơ trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

UBNDcấp huyện thực hiện cấp GCNKTTTcho chủ trang trại trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ từ UBNDcấp xã chuyển đến, nếu có đủ các điều kiện sau đây:

–  Đầy đủ hồ sơ theo quy định

– Thỏa mãn tiêu chí xác định kinh tế trang trại

GCNKTTTsau khi cấp được chuyển đến UBNDcấp xã và trả cho chủ trang trại trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày cấp GCNKTTT. Trường hợp không cấp GCNKTTT, Uỷ ban nhân dân cấp huyện phải gửi văn bản cho UBNDcấp xã, trong đó nói rõ lý do để thông báo cho người nộp hồ sơ. Nếu sau 13 ngày làm việc, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ mà không nhận được GCNKTTThoặc không nhận được thông báo không cấp GCNKTTTthì chủ trang trại đó có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Theo luật sư quy trình cấp GCNKTTTnêu trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân?

Nhìn chung quy định nêu trên khá chặt chẽ, tuy nhiên có một số điểm cần phải sửa và hướng dẫn chi tiết, nếu không nông dân sẽ bị làm khó khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận kinh tế trang trại.Trước hết: Theo quy định thìcá nhân, hộ gia đình có hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy chỉ được Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp GCNKTTTkhi thỏa mãn tiêu chí xác định kinh tế trang trại theo quy định tại Điều 5 của Thông tư nêu trên. Ngoài tiêu chí về diện tích, còn phải đáp ứng tiêu chí về giá trị sản lượng: Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm; cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên; cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên.Nông dân khi bán sản phẩm làm gì có hóa đơn. Vậy làm thế nào để một người nuôi cá chứng minh được rằng họ đã bán được 700 triệu đồng tiền cá /năm để được cấp GCNKTTT? Cơ quan nào, và dựa vào cơ sở nào để đánh giá được giá trị sản lượng của trang trại cũng chưa được làm rõ. Trong đơn đề nghị cấp GCNKTTTyêu cầu người đề nghị cấp phải ghi thông tin về giá trị sản lượng hàng hóa trong năm, sau đó có ý kiến xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã. Vậy mỗi lần bán sản phẩm lại phải có đại diện của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng kiến, xác nhận? Nếu không chứng kiến, xác nhận thì dựa vào đâu để UBND cấp xã xác nhận giá trị sản lượng hàng hóa trong năm? Vậy Ủy ban nhân dân cấp xã có đủ người để xác nhận cho mỗi chủ trang trại mỗi khi xuất bán sản phẩm? Mà không ký xác nhận thì làm khó cho dân, mà ký xác nhận lại thiếu cơ sở. Do đó tôi cho rằng quy định tiêu chí về giá trị sản lượng khá mơ hồ. Và có lẽ đây chính là kẽ hở để người có thẩm quyền xác nhận và thẩm định cấp Giấy chứng nhận kinh tế trang trại có cơ hội để bắt bẻ, nhũng nhiễu. Mặt khác cũng là quy mô diện tích như thế, nhưng giá trị sản lượng của nuôi tôm khác với nuôi cá…vậy nên đánh đồng giá trị sản lượng với nhau xem ra không hợp lý. Bởi vậy tôi cho rằng chỉ cần đảm bảo tiêu chí về diện tích đất là đủ. Tất nhiên diện tích đó là để sản xuất nông nghiệp.

Một điểm nữa, nếu tính tính thời gian, kể từ khi nộp đơn đến lúc được cấp GCNKTTT  lên tới 13 ngày, ấy là chưa kể trục trặc trong quá trình làm các thủ tục. Vào vụ sản xuất, người ta muốn có một cái Giấy chứng nhận kinh tế trang trại để được vay vốn đầu tư mà kéo dài gàn nửa tháng, có khi lỡ mất thời cơ. Người ta có đất rồi, có đủ hồ sơ rồi, các loại giấy tờ ( Bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng thuê đất …) đã được công chứng rồi, vẫn thường xuyên nuôi trồng nay chỉ nâng cấp thành trang trại thì tại sao lại phải kéo dài thời gian cấp như thế. Tôi cho rằng, tối đa chỉ bảy ngày là đủ thời gian để các cơ quan có thẩm quyền thẩm định cấp hay không cấp GCNKTTT.

Nhiều chủ trang trại muốn đăng ký nhãn hiệu sản phẩm nhưng  lại cho rằng thủ tục rườm rà, khó khăn. Quan điểm của luật sư về vấn đề này thế nào?

Để sản phẩm của trang trại đưa ra thị trường có giá trị cao thì nhất thiết phải có thương hiệu. Sản phẩm nông sản đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, khi phát hiện trên thị trường có sản phẩm bị nhái, bị làm giả thì chủ sở hữu có thể bảo vệ quyền của mình bằng việc yêu cầu cơ quan chức năng xử phạt vi phạm hành chính, khởi tố hình sự hoặc khởi kiện ra toà dân sự để đòi bồi thường thiệt hại.

Một trong những việc làm quan trọng trong việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm nông sản của trang trại là chủ trang trại cần xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu sản phẩm.

Theo quy định hiện hành, để đăng ký nhãn hiệu sản phẩm phải thực hiện 4 bước:

–          Đặt tên cho sản phẩm, thiết kế logo hoặc thiết kế nhãn hiệu cho sản phẩm.

–         Tra cứu nhãn hiệu sản phẩm đó đã có ai đăng ký chưa, nếu kết quả tra cứu khẳng định nhãn hiệu có khả năng đăng ký thì chủ trang trại tiến hành thủ tục đăng ký.

–          Nộp đơn đăng ký nhãn hiệu (kèm theo một số tài liệu liên quan theo quy định) đến Cục sở hữu trí tuệ.

–          Cục sở hữu trí tuệ thẩm định đơn đăng ký và sẽ công bố kết quả là cấp văn bằng bảo hộ hay từ chối trong vòng 12 tháng kể từ ngày nộp đơn, sau khi nhãn hiệu được cấp sẽ có hiệu lực là 10 năm kể từ ngày nộp đơn và cứ 10 năm sẽ tiến hành gia hạn.

Nói chung thủ tục đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam tương đối đơn giản, tuy nhiên lại mang tính nghiệp vụ, trong khi chủ trang trại phải dành nhiều thời gian vào công việc sản xuất do đó nên ủy quyền cho luật sư hoặc tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp thực hiện. Đơn cử như việc tra cứu xem nhãn hiệu sản phẩm đó đã có ai đăng ký trước chưa cũng tốn khá nhiều thời gian, công sức do đó cần phải có những người chuyên môn thực hiện.Về phía Nhà nước, quy định trong vòng 12 tháng kể từ ngày nộp đơn Cục sở hữu trí tuệ thẩm định rồi công bố kết quả cấp văn bằng bảo hộ hay từ chối là quá dài. Có khi một vòng quay của sản phẩm chỉ 3 đến 4 tháng mà phải đợi đến một năm sau chủ trang trại mới được cấp văn bằng bảo hộ là điều bất cập.

Cảm ơn luật sư!

Lê Chiên (thực hiện)


Untitled-1

GỬI YÊU CẦU TỚI LUẬT SƯ

Hotline: 0904 340 664 | Email: info@sblaw.vn