Câu hỏi:

Nhà ông X nằm sát nhà ông Y. Ông X khai phá sử dụng từ 1980 đến nay, ổn định không tranh chấp. Năm 2014, ông Y tố cáo ông X lấn chiếm đất của ông nhưng không đưa ra được diện tích cụ thể, ông Y tự phá rào và cây cối để xây dựng công trình trên đất đang tranh chấp từ 2014. Sau khi sự việc xảy ra, ông X và ông Y, cùng chính quyền địa phương lập biên bản, ông Y hứa sẽ đền bù tiền cho ông X. Tuy nhiên đến nay chưa thực hiện, vậy việc này phải giải quyết thế nào, cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết; tranh chấp đất đó giải quyết thế nào?

Luật sư trả lời:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi.

Liên quan đến thắc mắc của bạn, tôi xin tư vấn như sau:

Theo quy định tại Điều 203 Luật Đất đai 2013, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

“1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

  1. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành”.

Như vậy, khi hai bên không thỏa thuận được hoặc thỏa thuận nhưng không tự nguyện thực hiện. Bạn có thể gửi đơn yêu cầu giải quyết nên chủ tich UBND huyện hoặc lựa chọn gửi đơn khởi kiện ra Tòa. Quyết định giải quyết có hiệu lực của cơ quan giải quyết có thẩm quyền hoặc bản án giải quyết của Tòa có bắt buộc, nếu không tự nguyện thi hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Về nội dung tranh chấp, nếu ông X sử dụng đất ổn định về đất, có các hoa màu, tài sản trên đất, ông X có thể liên hệ UBND xã để xin xác nhận về quá trình sử dụng ổn định, lâu dài. Xin xác nhận của hàng xóm, của chính quyền về các tài sản hình thành trên đất, hoa màu bị ông Y phá bỏ khi chưa có căn cứ. Nếu ông Y không đưa ra được căn cứ đất là của ông Y thì ông Y phải trả lại đất cho ông X, phải bồi thường phần tài sản thiệt hại cho gia đình ông X.

 

Untitled-1

GỬI YÊU CẦU TỚI LUẬT SƯ

Hotline: 0904 340 664 | Email: info@sblaw.vn